HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

TÌM KIẾM

TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quyện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Ảnh ngẫu nhiên

Z7412230485754_887adfdc55d0a37b795122945e349c9e.jpg Z7412230443757_00b03a6f1000095bc1506c244f7b58af.jpg Z7412230342232_89a08a0b8e7ce021b73cc3253faa9f0e.jpg Z7412230229487_1bd34adad72849678d8d56e6645c3f83.jpg Z7412229551839_f2a404a90a77cac0a6feb26991d91db3.jpg Z7412229543357_808e03c65d6e4a0704347616eb04ce3f.jpg Z7412229531695_dea4f54b42a39369f547cb96e1081591.jpg Z7412229503757_4face64ef59b5fe2907d270c3975bd2b.jpg Z7412229498823_9afad5b3ed37365efab3d1ed733d190a.jpg Z7412229482839_c4111d26865b0042b9ac6ffdf7f5916a.jpg Z7412229477280_edc6e91c06ee23ebacff71a1c860aa62.jpg Z7412229477279_b3fb39df8ffd8f66171c822aab7eb1d5.jpg Z7412229462947_f50203af26ad0b83dde80d9ad83037ab.jpg Z7412229462222_c96561b7bb0ee733e165ea659de91123.jpg Z7412229445319_d50c8ab0ef1c2e91122239043a604ac8.jpg Z7412229415858_f3143c6995a0f7179095dbe19987cc21.jpg F4ebdd19bc5a0e04574b21.jpg C08cea7e8b3d3963602c20.jpg 289fb048d10b63553a1a24.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU THƯ VIỆN THÂN THIỆN

    Việt Nam một thiên lịch sử

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: https://thuviensachpdf.com/viet-nam-mot-thien-lich-su
    Người gửi: Huỳnh Thị Hạnh
    Ngày gửi: 16h:01' 15-10-2025
    Dung lượng: 1.9 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Việt Nam Một Thiên Lịch Sử
    (Vietnam Une Longue Histoire)
    Tác giả: Nguyễn Khắc Viện 
    Thể loại: History
    Nhà Xuất Bản Khoa học xã hội - Thái Hà - 2007
    Dịch giả: Diệu Bình
    Ngày hoàn thành: 05-9-2014
    Số hóa: Hanhdb
    Thư viện ebook TVE-4U Read Freely, Think Freedom
    Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
    Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org

    https://thuviensach.vn

    Lời nói đầu
    Trong lễ tưởng niệm bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tại Paris, Tiến sĩ Sử học
    Charles Fourniau, Chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp - Việt đã viết:
    "... Ngay từ những phút đầu tiên, tôi nhận ra ngay đây sẽ là bậc thầy của
    tôi. Và ông mãi vẫn là bậc thầy của tôi. Tôi may mắn được tiếp cận ông một trong những trí tuệ sáng chói nổi bật nhất. Vốn văn hóa của ông , hay
    nói đúng ra là vốn các văn hóa của ông, bởi lẽ ông có đến ba vốn văn hóa,
    Việt Nam, Trung Hoa, Pháp... quả thật dường như là vô hạn..."
    Nhiều tác phẩm của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho đến nay vẫn còn
    nhưng giá trị lớn lao. Bất cứ đối tượng nào, từ người già, thanh niên đến trẻ
    em đều có thể thấy qua tác phẩm của ông bóng dáng một người bạn , một
    người thầy, một người ông với kiến thức uyên thâm và tấm lòng nhân ái.
    Về một số vấn đề có tính thời sự, trong dịp tái bản cuốn Một đôi lời trước
    ngày đi xa một năm, ông đã viết: 
    "... Mới hơn 10 năm mà nay nhớ lại nhiều việc, như là chuyện thời xa
    xưa, cả nước đã chuyển sang một thời đại mới. Nay cho in lại, xin cứ giữ
    nguyên bản, không sửa chữa, như là một vết tích của một thời, để bạn đọc
    ngày nay thấy một số người "xưa kia" suy nghĩ những gì... Thời thế thay
    đổi, không thể không thay đổi ý kiến, loại trừ một số sai lầm tư tưởng,
    nhưng điều không thể thay đổi là cái đạo lý làm người. Thức thời, chứ
    không phải cơ hội..."
    Quả là toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Khắc Viện, kể cả những đề tài "thời
    sự" đã qua như phong trào "hợp tác xã" hay " Liên Xô" ... vẫn sáng rõ một
    "đạo lý" đẹp đẽ và chung thủy của một sĩ phu trung thực, hết lòng vì nước
    vì dân, nên đều có giá trị bổ sung kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn cho nhiều
    thế hệ bạn đọc.
    Với sự ngưỡng mộ và kính trọng đặc biệt sâu sắc với bác sĩ Nguyễn
    Khắc Viện, được sự đồng ý và cộng tác của gia đình cố bác sĩ Nguyễn

    https://thuviensach.vn

    Khắc Viện, Công ty Cổ phần Sách Thái Hà xin giới thiệu với độc giả bộ
    sách gồm 5 cuốn: Tâm tình của đất nước, Đạo và Đời, Việt Nam - Một
    thiên lịch sử, Nguyễn Khắc Viện - Chân dung và kỷ niệm, Tự truyện.
    Trân trọng giới thiệu cùng độc giả và rất mong nhận được ý kiến đóng
    góp của bạn đọc gần xa.
    CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH THÁI HÀ

    https://thuviensach.vn

    Chương 1

    Cội nguồn từ thời đồ đá đến thời đại đồ đồng

    https://thuviensach.vn

    Thời đại đồ đá cũ và thời đại đồ đá mới
    Nước Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Á: Tại đây có những dấu
    hiệu được phát hiện cho thấy khỉ dạng người đã tìm xuất hiện ở nhiều nơi.
    Tháng 8-1965, trong một hang động thuộc xã Tân Văn,tỉnh Lạng Sơn,
    người ta phát hiện di cốt của một vượn người, và những chiếc răng của một
    người vượn khác gần với người vượn Bắc Kinh hơn. Di cốt ấy đang được
    nghiên cứu, nhưng những nhận xét đầu tiên cho phép xác định thời điểm
    chúng xuất hiện là vào thời kì trung pleistocène(1)(khoảng 500.000 năm).
    Các vết tích đầu tiên của một kỹ nghệ thực sự của con người được phát
    hiện tháng 11-1960, trên núi Đọ, tỉnh Thanh Hóa: ở một độ cao cách mặt
    ruộng xung quanh từ 20 đến 30m, người ta tìm thấy hàng nghìn mảnh tước
    dùng để cắt, cào. Trong số các mảnh tước có những nắm đấm hình hạnh
    nhân, hai mặt được gọt cẩn thận, điển hình cho thời kì chelléen. Điều đó
    khẳng định sự tồn tại của sơ kì đá cũ ở Việt Nam(một số nhà khảo học Việt
    Nam không công nhận điều này).
    Trong nhiều hang động của các tỉnh Yên Bái, Ninh Bình, Quảng Bình
    với những lớp trầm tích chứa xương động vật thuộc thời kì hậu pleistocène,
    người ta đã phát hiện ra những chiếc răng và hàm của người vượn Homo
    sapiens(2). Vậy là con người vẫn tiếp tục tồn tại suốt một thời gian dài, cải
    tiến dần dần tuy rất chậm các công cụ của mình để tiến lên một kỹ nghệ
    hoàn thiện hơn.
    Vào cuối thời đại đá cũ châu thổ sông Hồng chưa được phù sa lấp đầy,
    con người phải cư trú trong những khối núi đá vôi bao quanh các châu thổ,
    những khối núi này có nhiều hang động rộng rãi thuận tiện cho việc cư trú,
    gần các sông suối, rừng rậm sẵn thức ăn. Các hòn sỏi trong lòng suối cũng
    là nguyên liệu cần thiết để chế tác công cụ. Chính trong các hang động Hòa
    Bình và Bắc Sơn, người ta đã tìm thấy nhiều trung tâm văn hóa đồ đá, với

    https://thuviensach.vn

    những dụng cụ, những vật dụng hàng ngày, những dấu vết của bếp núc và
    những thứ được bỏ lại sau bữa ăn, chủ yếu là vỏ sò, ốc và xương thú.
    Các công cụ được làm bằng đá đẽo còn thô kệch có hình dạng ê-líp, hình
    đĩa, hạnh nhân, làm thành những con dao, những cái cào, những rìu tay
    hình chữ nhật. Những hòn sỏi được dùng làm chày để giã các loại hạt. Dần
    dần xuất hiện loại rìu bằng đá mài, gọi là rìu Bắc Sơn. Các công cụ bằng
    xương hay sừng thú có vẻ không phổ biến. Có khả năng là cây tre, dễ sử
    dụng, được dùng rộng rãi cho nhiều việc khác nhau: cọc, tên bắn, dao và
    một gốc tre già được dùng để chứa đựng, thậm chí làm nồi để nấu thức
    ăn(cách làm này hiện nay vẫn còn phổ biến ở các miền núi).
    Các thân tre, sọ dừa, vỏ bầu cũng được dùng làm vật đựng và nồi niêu.
    Vào thời kì Bắc Sơn, đồ gốm xuất hiện. Lúc đầu đất sét được nhào và nặn
    thành những khúc dài và tròn như những khúc dồi, rồi đem quấn lại để tạo
    thành những vật đựng hay những nồi niêu, sau đó người ta làm nhẵn cả mặt
    trong và mặt ngoài. Trong một số đồ vật được tìm thấy, người ta còn nhận
    ra những dấu vết chắc là của một thứ dụng cụ giống cái bay có buộc bằng
    một sợi dây leo, dùng để vỗ đất khi còn ướt. Nói chung, các đồ gốm còn
    thô kệch và được nung ở nhiệt độ không cao.
    Hái lượm và săn bắn là những hoạt động chính, chưa có dấu vết của
    nông nghiệp, cũng không có dấu vết của gia súc, có lẽ trừ con chó.
    Cũng vào thời kì ấy, ở các vùng ven biển Trung Bộ, con người sống chủ
    yếu bằng đánh cá và vỏ của những con sò(ruột sò dùng làm thức ăn) được
    chất thành những đống khổng lồ cao từ 5 đến 6m trải rộng trên nhiều nghìn
    mét vuông, điển hình nhất là trong vùng Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Trong
    các đông vỏ sò này, người ta cũng tìm thấy những xương thú(hươu, nai,
    trâu, chó) và những chiếc chày với cối bằng đá rỗng để nghiền các loại hạt.
    Nhiều công cụ bằng đá cũng được tìm thấy ở đấy.
    Trong một đống vỏ sò ở Quỳnh Văn, đã tìm thấy nhiều ngôi mộ chôn tập
    trung thành nhóm, người chết được chôn ngồi, đầu gối gấp lại, với vài công
    cụ lao động và những vỏ sò, xương thú, hoặc bằng đá hay là những viên bi
    bằng đất nung có đục lỗ làm đồ trang sức. Trên mặt đồ gốm xuất hiện
    https://thuviensach.vn

    những hình vẽ trang trí; trên vách một cái hang ở tỉnh Hòa Bình, người ta
    tìm thấy một hình vẽ một con vật mình thú đầu người nhưng có sừng. Sự
    tồn tại của những vỏ sò trong những hang động ở xa biển cũng như những
    công cụ bằng đá ở những bờ biển không có nguyên liệu làm công cụ, có vẻ
    chứng minh rằng đã có những sự trao đổi giữa hai miền.
    Có lý do đế nghĩ rằng vào cuối thời đại đá mới, cách đây năm, sáu nghìn
    năm, phần lớn các cư dân nguyên thủy đóng trên lãnh thổ hiện nay của Việt
    Nam đã bước vào kỉ nguyên trồng lúa. Những phát hiện khảo cổ gần đây đã
    cho thấy những vết tích của việc trồng lúa mỗi nơi một ít, từ Bắc chí Nam,
    từ miền trung đến đồng bằng, bờ biển hay xa hơn nữa, ở các đảo ngoài
    khơi. Ngoài các di chỉ đá mới đã được biết trong châu thổ Sông Hồng và
    lưu vực sông Mã, người ta còn tìm thấy trên bờ biển tỉnh Quảng Ninh,
    những di tích của nền văn hóa Hạ Long, có lẽ đã bắt nguồn từ các nền văn
    hóa hậu Bắc Sơn. Cũng trên bờ biển nhưng quá xuống phía Nam, trong
    phần bắc của Bình Trị Thiên, đã phát hiện di chỉ Bầu Tró mà lớp văn hóa
    có thể coi là một giai đoạn tiến hóa cao hơn của truyền thông Quỳnh Văn.
    Cũng thuộc thời kỳ này, người ta tìm thấy trên vùng cao nguyên ở tây
    nam Trung Bộ những nhà ngoài trời, đặc biệt ở Gia Lai-Kon Tum và Đắc
    Lắc, trong đó có rìu, dao, đá mài, những cuốc bằng đá và những đồ gốm mà
    cách cấu tạo không có gì giống với những đồ vật được tìm thấy ở các nơi
    khác ở Việt Nam.
    Quá về phía nam trong lưu vực sông Đồng Nai, gần 50 di chỉ đá mới đã
    được phát hiện trong những lớp phù sa cũ và mới của các đảo trên sông, có
    khi tràn cả lên bờ, mà tiêu biểu nhất là di chỉ Cầu Sắt trong huyện Xuân
    Lộc. Như vậy, cách đây hơn 4000 năm, ở miền này đã có một cuộc sống sôi
    động với những điểm cư trú tương đối quan trọng. Văn hóa Đồng Nai là
    một nền văn hóa của những vùng đất ở độ cao trung bình với một nền nông
    nghiệp khô, khác với nền nông nghiệp ở đất ngập nước trong các miền
    trũng của đồng bằng. Truyền thống này sẽ phát triển liên tục cho đến thời
    kỳ đồ sắt và có thể đã dẫn đến sự hình thành nền văn hóa Óc Eo trong các
    vùng đất thấp của miền Tây châu thổ sông Cửu Long.

    https://thuviensach.vn

    Các công cụ bằng đá mài ngày càng được chuyên môn hóa. Cái lưỡi rìu
    và cuốc lim có vai hay mộng để tra cán được mài nhẵn, với những hình
    dạng hình học đều đặn, những kiểu và những kích thước khác nhau, và đều
    có cán. Con người biết cưa, khoan, và nhờ một loạt dụng cụ, có thể đốn
    cây, khai hoang những khoảnh đất rộng, chế tạo thuyền, những đồ vật bằng
    gỗ và bằng tre, cạo vỏ cây, da thú; con người có thể chế tác xương, sừng, đá
    để tạo ra những chiếc nhẫn, vòng tay, hoa tai, chuỗi hạt.
    Nghệ thuật gốm đạt trình độ cao với việc sử dụng bàn xoay và việc nung
    trong lò cung cấp những sản phẩm có chất lượng, có hình thức và kích
    thước đa dạng: nồi to và nhỏ, bình, vò phần lớn mang những trang trí chạm
    khắc, chủ yếu và những hình kỷ hà. Những chiếc kim bằng xương, những
    guồng quay và những trục suốt bằng đất nung chứng tỏ sự tồn tại của nghề
    dệt vải may quần áo, các nơi gần bờ biển hay gần sông, người ta tìm thấy
    nhiều ''viên chì'' ở lưới đánh cá, bằng đất nung, cũng có những viên bi bằng
    đất nung để săn bắn bằng ống xì đồng.
    Sự xuất hiện nông nghiệp và chăn nuôi được khẳng định qua việc phát
    hiện những cái cuốc, những vò lớn bằng gốm dùng để đựng thóc, và những
    xương lợn và xương trâu. Hình như đã có trồng lúa rẫy trên núi và trong
    các ruộng nước ở đồng bằng, bởi Đông Dương vốn là một trong số những
    vùng trồng lúa nước sớm nhất.
    Nếu ở miền núi con người tiếp tục sống trong các hang động thì ở những
    di chỉ mới phát hiện gần đây ở đồng bằng, người ta tìm thấy những di tích
    nhà bằng gỗ và tre; kích thước nhà hình như chứng minh rằng đó là những
    nhà tập thể. Di tích các nhà rải ra trên hàng nghìn mét vuông, một diện tích
    tương đương với một làng hiện nay. Số lượng không đếm xuể những dụng
    cụ tìm thấy ở những nơi ấy chứng tỏ sự có mặt của hàng nghìn người, họp
    thành một bộ lạc, gồm nhiều thị tộc. Nhà chắc là làm theo kiểu nhà sàn,
    như các vùng dân tộc thiểu số miền núi ngày nay. Lịch sử truyền thống kể
    lại rằng ''tổ tiên chúng ta xây dựng những nhà có tầng gác để tránh bị hổ tấn
    công''.

    https://thuviensach.vn

    Sự chế tác hàng loạt các công cụ, sự xuất hiện các đồ trang sức với số
    lượng lớn, những đồ gốm có trang trí, chứng tỏ sự phân công lao động đã
    đạt một trình độ cao. Người chết được chôn cùng với những dụng cụ, đồ
    trang sức và đồ gốm, người ta hay gặp những mộ tập thể. Sự bình đẳng
    trước cái chết chứng tỏ chưa có sự phân hóa giai cấp giữa những người
    sống.
    Những chiếc sọ tìm thấy trong các di chỉ Hòa Bình, Bắc Sơn Quỳnh Văn,
    Minh Cầm chỉ rõ rằng, các cư dân thuộc về nhóm australo-negroide; nhưng
    chẳng bao lâu xuất hiện những yếu tố mongoloide. Sự pha giống những
    người mongoioide đến từ phía Bắc với những người negroide ở phía Nam
    sinh ra nhóm australo-negroide lúc đầu sống chung với các nhóm khác, rồi
    rốt cuộc chiếm ưu thế. Các tộc người chung sống hiện nay trên đất nước
    Việt Nam đều thuộc về nhóm người mongoloide phía Nam, nhưng còn
    mang dấu vết ít nhiều rõ rệt của nhóm australo-negroide. Đó là sự pha
    giống, cho ra đời một nhóm bản xứ, tiến triển tại chỗ với nền văn hóa của
    riêng mình, chứ không phải là một cuộc di cư ồ ạt mang đến một nền văn
    hóa từ bên ngoài. Kết quả nghiên cứu các công cụ bằng đá, các đố gôm của
    những di chỉ khác nhau thuộc đồ đá giữa và đá mới chứng tỏ một quá trình
    tiến triển liên tục nội bộ tại chỗ với sự độc đáo của riêng mình.

    https://thuviensach.vn

    Thời đại đồ đồng
    Vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ hai trước C.N, đồ đồng bắt đầu xuất
    hiện bên cạnh đồ đá. Các di chỉ có niên đại từ đầu thời đại đồ đồng phần
    lớn tập trung trong miền trung du và đồng bằng sông Hồng. Điển hình nhất
    là di chỉ Phùng Nguyên(tỉnh Vĩnh Phú), phát hiện năm 1958, mà những vật
    thu thập được - công cụ lao động và đồ trang sức, đều được mài nhẵn rất
    tính vi, chứng tỏ tình độ cao của kỹ thuật đồ đá, đặc biệt kĩ thuật cưa, cho
    phép chế tạo những đồ vật có hình dạng chích xác và nhiều khi phức tạp,
    với một số nguyên liệu tối thiểu. Chính trên cơ sở đó, những đồ đồng đã
    xuất hiện, ngày càng chiếm ưu thế trong lĩnh vực các loại công cụ cũng như
    vũ khí. Từ nền văn hóa Phùng Nguyên này của đầu thời đại đồ đồng, ta
    chuyển sang giai đoạn Đồng Đậu(nửa sau nửa thiên niên kỷ thứ hai trước
    C.N), rồi đến giai đoạn Gò Mun(đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước C.N) để
    cuối cùng đạt đến một đỉnh cao khác, nền văn hóa Đông Sơn, mang tên của
    di dủ Đông Sơn, là di chỉ quan trọng nhất, được phát hiện năm 1924, ở tỉnh
    Thanh Hóa. Cho tới nay, các nhà khảo cố đã tìm thấy 98 di chỉ Đông Sơn,
    cung cấp một bộ sưu tập phong phú những vật bằng đồng gồm ít nhất 50
    loại khác nhau, phân bố hầu như trên khắp các vùng của bắc Việt Nam, đặc
    biệt dọc theo lưu vực các sông Hồng, sông Mã và sông Cả.
    Các vật đầu tiên bằng đồng, rồi bằng đồng thanh, xuất hiện trước tiên
    bên cạnh những công cụ bằng đá đẽo, những đồ gốm vẫn còn mang tính
    chất của thời kì đồ đá mới. Nhiều khuôn bằng sa thạch để chế tạo rìu, lưỡi
    giáo, dao được tìm thấy mỗi nơi một ít. Chất lượng đồng thanh và các hình
    dạng được cải tiến dần dần để cuối cùng đạt đến trình độ những sáng tạo
    đặc sắc của Đông Sơn. Sự tiến hóa này đã kéo dài nhiều thế kỉ; có dấu ấn
    của những đóng góp tìm ngoài vào quá trình đó, nhưng đó không phải là
    yếu tố quyết định như các nhà khảo học phương Tây vẫn tưởng.
    Dựa trên những tư liệu không đầy đủ, lại bị chi phối ít nhiều bởi đầu óc
    thực dân, một số nhà khảo cổ học phương Tây thậm chí đã đưa ra ý kiến

    https://thuviensach.vn

    rằng nghệ thuật đồ đồng Việt Nam bắt nguồn từ châu Âu. Những phát hiện
    gần đây cho thấy ba sự kiện quan trọng:
    Nghệ thuật đồ đồng thanh xuất hiện trên cơ sở kĩ nghệ đá mới, bản thân
    nghệ thuật đồng thanh cũng đã trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài đưa
    đến sự sáng tạo ra những hình dáng đặc sắc của văn hóa Đông Sơn; nghệ
    thuật đồng thanh được phố biến rộng trên lãnh thổ Việt Nam, và các di chỉ
    được phát hiện những năm gần đây cho thay một sự thống nhất về văn
    minh rất độc đáo.(3)
    Những công cụ và đồ vật bằng đồng tìm thấy rất đa dạng. Ta có thể phân
    biệt những công cụ sản xuất: lưỡi cày, rìu, dao, cào, đục để chế tác gỗ, kim,
    dao để khắc, lưỡi câu; những đồ vật dùng trong nhà: bình, vò, nồi, vại,
    chĩnh, những vũ khí: đầu mũi tên, giáo, gươm, dao găm, mâu, áo giáp;
    những nhạc cụ: chuông, trống, những sản phẩm nghệ thuật: vòng đeo tay,
    tượng nhỏ.
    Đồ vật đặc sắc nhất chắc chắn là những trống đồng, người ta đã tìm thấy
    được những trống đồng trong khắp cả vùng Đông Nam Á và ở Trung Quốc,
    nhưng mọi người đều nhất trí thừa nhận những chiếc trống đẹp nhất đều đã
    được phát hiện ở Việt Nam. Trống Ngọc Lũ cao 63cm, mặt trống có đường
    kính 79cm, có dạng hình trụ. Ở mặt trên, giữa có hình mặt trời với rất nhiều
    tia sáng tỏa ra, xung quanh có 16 vòng tròn đồng tâm với nhiều hình vẽ rất
    khác nhau. Bên cạnh những hình trang trí kỷ hà là cả một đám rước gồm
    những bầy hươu, chim nước với những nhân vật - người thì chơi nhạc cụ,
    người thì giã gạo hay đánh trống. Người mặc áo lông chim, làm cho họ có
    vẻ như những người chim, hẳn là mang tính chất vật tổ(totem): họ nhảy
    múa theo nhịp phách. Trong bức tranh có những nhà sàn nhỏ, còn ở bên
    dưới, trên một lỗ phình ra hình tròn, người ta thấy những thuyền đang bơi,
    với những chiến sĩ trang bị bằng rìu, lao và tên.
    Từ 1975, nhiều cuộc khai quật đã được tiến hành ở miền Nam.
    Tất cả các hình vẽ và trang trí này có tính chất vừa hiện thực vừa cách
    điệu, chứng tỏ trình độ nghệ thuật cao của các tác giả. Phần lớn các vật
    bằng đồng tìm thấy đều được trang trí rất đẹp hoặc có những dạng tạo hình
    https://thuviensach.vn

    đặc sắc. Đó rõ ràng là một nền văn minh đặc trưng, độc đáo. Các trống
    đồng được sử dụng trong các lễ hội lớn, đặc biệt trong các lễ hội cầu mưa.
    Các lưỡi cày bằng đồng, các lưỡi dao quắm, lưỡi liền, các hình vẽ những
    cây lúa trên các lưỡi rìu, hay những người đang giã gạo chứng tỏ sự phát
    triển của nông nghiệp. Nếu việc trồng lúa rẫy vẫn tiếp tục, thì việc trồng lúa
    nước đang trên đà phát triển mạnh. Việc đánh cá sông và biển được tiến
    hành rộng rãi. Các nghề thủ công, đồ gốm, đúc đồng, đạt đến một trình độ
    cao bắt đầu tách khỏi nông nghiệp; trên các đồ gốm, thấy có vết tre đan,
    nghề đan tre chắc chắn là đã phát triển rực rỡ.
    Các hình trên mặt trống đồng vẽ những nhà sàn lớn cũng như những
    chiếc thuyền lớn, chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của nghề mộc.
    Bằng chứng của sự trao đổi với bên ngoài, đặc biệt với các vùng khác
    nhau của miền Nam Trung Hoa và Inđônêxia là sự phát hiện những đồ vật
    khác nhau, những thứ vũ khí thời Chiến Quốc(từ thê kỷ thứ năm đến thế kỷ
    thứ ba trước C.N, ở Trung Quốc) trong các ngôi mộ, trong khi các trống
    đồng mang dấu ấn Đông Sơn được bán đi rất xa.
    Cung với nền văn minh vật chất và những ngành nghệ thuật đã phát triển
    đến trình độ sung mãn ở miền Bắc vào cuối thiên nên kỷ thứ nhất trước
    C.N, người ta lại phát hiện thấy, trên một dải ven biển trải dài từ Nam Đèo
    Ngang(vĩ tuyến thứ 18) đến tận lưu vực sông Đồng Nai, một nền văn minh
    khác không kém phần rực rỡ và có những quan hệ rất nhiều mặt với nền
    văn hóa Đông Sơn. Đó là văn hóa Sa Huỳnh, được phát hiện lần đầu tiên tại
    di chỉ Sa Huỳnh, nằm trên bờ biển của tỉnh Quảng Ngãi ngày nay. Đặc
    điểm chính của nền văn hóa này là sự tồn tại khắp nơi của những khu mộ
    táng gồm những ngôi mộ bằng chum(cao trung bình 60m) chứa những vật
    được táng theo là những đồ trang sức bằng đồng, đá quý hay thủy tinh,
    những công cụ bằng đồng hay bằng đá, những sản phẩm tạo tác, qua đó có
    thể nhận ra một truyền thong văn hóa đã tiến triển một cách liên tục trong
    nhiều nghìn năm bắt đầu từ thời đại đồ đồng cho đến đầu thời đại đồ sắt(từ
    thiên niên kỷ thứ tư đến thiên rên kỷ thứ nhất trước C.N).

    https://thuviensach.vn

    Kết quả nghiên cứu các vật thu nhặt được cho phép giả thiết rằng truyền
    thống Sa Huỳnh được hình thành trên một nền tảng kinh tế mà cơ sở là việc
    trồng lúa và các cây lương thực khô trên một địa hình phức tạp bao gồm cả
    những gò và đồi cao, đồng bằng thấp trũng và những dải phù sa dọc bờ
    biển: Cư dân Sa Huỳnh cũng đánh bắt cá biển và duy trì quan hệ liên tục
    bằng đường biển với các cư dân của đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc và
    các đảo ở phía Nam. Như thế là các ngôi mộ chum nằm trong khuôn khổ
    của một truyền thống văn hóa rộng hơn được phân bố đến tận Thượng Lào,
    Thái Lan, Philipin, Inđônêxia. Văn hóa Sa Huỳnh có thế đã dẫn đến sự
    thành lập các nhà nước Malai-Polynêdiêng cổ trên các đồng bằng ven biển
    Trung Việt Nam ở những thế kỷ đầu của kỷ nguyên chúng ta.

    https://thuviensach.vn

    Các vua hùng và vương quốc Văn Lang
    Các phát hiện khảo cố học, đặc biệt sự khai quật một loạt di chỉ đá mới
    dọc sông Hồng, từ Phú Thọ đến gần Hà Nội, lịch sử huyền thoại như các sử
    biên nên kể lại, những chỉ dẫn trích từ các tác giả Trung Quốc cổ, đều khớp
    với nhau để đưa ra những thông tin ít nhiều chính xác về những buổi đầu
    của lịch sử Việt Nam.
    Các sử gia Trung Quốc đầu tiên gọi tên và Bách Việt gồm những cư dân
    sống ở các vùng của phía nam Trung Quốc, phía nam sông Dương Tử.
    Thực ra đó là một danh từ chủng loại bao gồm những nhóm tộc người khác
    nhau, trong đó nhóm Lạc Việt chiếm cứ các đồng bằng và các miền ven
    biển của Bắc Việt Nam hiện nay cũng như một phần tỉnh Quảng Đông của
    Trung Quốc hiện nay.
    Người Lạc Việt lúc đó gồm mười lăm bộ lạc đã định cư. Là nhà nông, họ
    trồng lúa nước, xăm mình bằng những hình thủy quái, ăn trầu, nhuộm răng
    đen, xát gạo bằng tay. Một loạt huyền thoại có ý nghĩa gắn liền với thời kỳ
    đó.
    Vua Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ sinh ra một trăm con trai. Một hôm
    vua nói với vợ: ''Ta là dòng giống Rồng, nàng là dòng giống Tiên, chúng ta
    phải chia tay''. Vua mang năm mươi người con trai xuống đồng bằng, còn
    năm mươi người con trai kia theo mẹ lên núi. Lạc Long Quân truyền ngôi
    cho một người con trai, mở đường cho một triều đại mười tám vua nối tiếp
    nhau lấy tên là Hùng Vương. Theo lịch sử truyền thuyết, triều đại các vua
    Hùng được thành lập cách đây bốn nghìn năm.
    Vương quốc có tên là Văn Lang, là một liên hiệp của mười năm bộ lạc
    mà hạt nhân là bộ lạc Mê Linh, đóng ở vùng Bạch Hạc, gần Việt Trì ngày
    nay. Các vua Hùng cai trị thông qua các lạc hầu(quan văn) và lạc
    tướng(quan võ) và những viên chức phụ trợ gọi là bố chính. Vua thì cha
    truyền con nối, các lạc hầu và lạc tướng chắc cũng vậy: một tầng lớp quý

    https://thuviensach.vn

    tộc được hình thành như thế, trong khi các công xã nguyên thủy vẫn tồn tại,
    trong đó sự phân hóa xã hội ngày càng tăng. Chiến tranh giữa các nhóm
    khác nhau cũng cung cấp những nô lệ.
    Vua Hùng đời cuối cùng có một người con gái rất đẹp, được hai kẻ cầu
    hôn: thần núi Sơn Tinh và thần nước Thủy Tinh. Vua hứa gả nàng cho kẻ
    nào mang quà cưới đến trước. Sơn Tinh đến trước và đưa nàng công chúa
    lên núi, Thủy Tinh nổi giận dâng nước lên tấn công núi nhưng Sơn Tinh
    chế ngự được nước, buộc nước phải rút. Nhưng hàng năm, vào mùa ấy,
    cuộc chiến lại tiếp diễn giữa hai vị thần và kết cục lần nào Sơn Tinh cũng
    thắng. Truyền thuyết rõ ràng phản ánh cuộc đấu tranh của dân chúng chống
    những cơn lũ lụt chu kỳ của các con sông vào mùa mưa bão. Rõ ràng là từ
    những buổi đầu lịch sử của mình, nhân dân Việt Nam đã phải tự tổ chức để
    chế ngự nước, do đó cần đến một sự tập hợp và một tổ chức tập trung ngày
    càng được củng cố cùng với sự chinh phục những châu thổ của các con
    sông lớn.

    https://thuviensach.vn

    Vương quốc Âu Lạc
    Trong khi người Lạc Việt tự tổ chức lại ở các đồng bằng và các vùng ven
    biển, thì ở những miền núi của vùng Việt Bắc hiện nay và thêm một phần
    tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc hiện nay, có Tây Âu(hay Âu Việt) sinh
    sống, thường xuyên duy trì những trao đổi với dân Lạc Việt. Người Tây Âu
    là tổ tiên của các nhóm tộc người Tày, Nùng và Choang hiện nay sống ở
    bắc Việt Nam và nam Trung Quốc. Họ hình thành một liên hiệp bộ lạc mà
    trung tâm nằm ở tỉnh Cao Bằng ngày nay. Giữa người Tây Âu và người Lạc
    Việt cũng thỉnh thoảng xảy ra những cuộc chiến t
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TÔ VĨNH DIỆN !