GIỚI THIỆU THƯ VIỆN THÂN THIỆN
Cuộc chiến đông dương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 09h:01' 16-03-2024
Dung lượng: 870.0 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 09h:01' 16-03-2024
Dung lượng: 870.0 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
MỤC LỤC
PHẦN 1: CUỘC CHIẾN.. 4
Ngày 7-5-1954, đúng 17 giờ 30, Điện Biên Phủ thất thủ. Đã đúng
nửa thế kỷ. 5
1945-1947: “Đội quân Bigeard”. 6
Theo lời kêu gọi của Leclerc. 6
Chiến dịch đầu tiên tại vùng cao. 9
1948-1950: Lãnh chúa chiến tranh xứ Thái 12
Cao Bằng, sự tệ hại! 17
1952-1954: Từ Tú Lệ đến Điện Biên Phủ. 18
Một tiểu đoàn lính mới và lính già. 19
Mất Nghĩa Lộ, lại rắc rối 21
Quân Việt Minh theo sát gót và chúng tôi phải rút quân. 23
Một nhiệm vụ nhảy dù đầu tiên ngoạn mục. 25
1er RCP, tiều đoàn tinh hoa khác. 27
Lạng Sơn, hang kho tàng. 29
Những đợt sóng đầu tiên tại Điện Biên Phủ. 31
Tiểu đoàn 6e BPC lập thêm chiến công. 33
Lại bắt đầu phiêu lưu. 35
Tấn công ! Thà phản ứng hơn là chịu đựng. 36
Cuối tháng 2, Cogny triệu tập tôi 36
Người của tôi: tin tưởng và gắn bó nhau. 38
Tăng viện đến nhưng quá trễ. Hà Nội không hiểu gì cả. 44
Kiệt sức, chán ngán, tiếp tục chiến đấu. 47
Bị cầm tù, bốn tháng kinh hoàng tột độ. 49
PHẦN 2: THĂM LẠI ĐÔNG DƯƠNG.. 52
PHẦN 3: PHỤ LỤC.. 58
Cuộc chiến Đông Dương của tôi – Marcel Bigeard
Tôi chân thành cảm ơn Tướng Trần Văn Quang và đại tá Phạm Xuân
Phượng đã nồng nhiệt tiếp đón tôi ở VN. Tôi gởi lời cảm ơn đến các ông:
Phạm Văn Nam, René Lepore, Jean-Claue Criton, daniel Maillot, Eric
Bouver, Fréderic Helbert đã giúp đỡ thực hiện quyển sách này.
Cùng với lời cảm ơn đến Cơ quan SIRPA/ECPA đã nghiên cứ và lưu
trữ những hình ảnh chiến tranh Đông Dương và Cơ quan ảnh báo chí
GLMR.
Tôi luôn nói rằng tôi chỉ trở lại Điện Biên Phủ với nắm tro xác được thả
dù để gặp lại những anh em mà tôi không bao giờ quên đã chôn rải rác trong
thung lũng xa xôi này. Dù sao tôi đã trở lại trước khi nhảy dù lần cuối cùng
để nói lên, và còn nói về cuộc chiến Đông Dương và Điện Biên Phủ không
bao giờ quên. Tôi đã quay lại khi còn sống để tưởng nhớ tất cả các anh em
binh sĩ.
Tựa quyển sách có vẻ kiêu kỳ nhưng chỉ là một bằng chứng những gì
tôi đã sống. Qua những hình ảnh cảm động, anh hùng và hy sinh.
Ngày nay Việt Nam và Pháp là những người bạn mới, Người Việt Nam
đã nói: “ Người Pháp các anh có trái tim nhưng không có tiền, Người Mỹ có
tiền nhưng không có trái tim, người Nga không có cả hai”.
Sau khi tuyên bố như vậy, làm sao người ta có thể thoát khỏi căn bệnh
[1]
“da vàng ” ? (Bigeard)
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
[2]
PHẦN 1: CUỘC CHIẾN
Ngày 7-5-1954, đúng 17 giờ 30, Điện Biên Phủ thất thủ.
Đã đúng nửa thế kỷ
Dù đã qua nhiều năm, tôi còn thấy buồn cho những ai đã cho quá nhiều
trong cuộc “chiến tranh bẩn thỉu”. Đúng vậy, đã đau khổ về kỷ niệm về
những ngày cuối trong trận mưa pháo, súng đạn và địa ngục. Rừng đã bị tàn
phá như những con người đã chiến đấu và chết từng lúc. Tất cả các chiến sĩ
[3]
bị bỏ rơi do thế lực chính trị không hiểu gì khi dàn organ Staline dội trên
đầu chúng tôi.
Không còn hàm trú, không còn trạm phẫu thuật nào còn nguyên để
chăm sóc thương binh cố đứng dậy chiến đấu dù biết rằng phải kết thúc.
Thắng hay thua trong danh dự là hy vọng duy nhất của chúng tôi. Cố cầm cự
một ngày là hy vọng một phép lạ. Thế giới tự do không thể bỏ rơi chúng tôi !
Lúc 17h30, cuộc chiến kết thúc. Chúng tôi không biết sau trận chiến
chúng tôi phải đối mặt cuộc chiến khác ghê gớm hơn: chống lại cái chết từ từ
và cái chết tinh thần. Những người sống sót bắt đầu những bước đi cuối cùng
về các trại tù má ít ai có thể sống sót trở về. Không thể tin được! Trong tình
trạng hỗn độn ấy, chỉ còn chỉ còn vết tích những giá trị mất dần theo thời
gian: tình anh em keo sơn do đồng cam cộng khỗ cách biệt hẵn với sự đê tiện
của con người, tình thương của nước Mẹ, lòng anh hùng và ý nghĩa của sự
hy sinh.
Người ta tưởng rằng lòng hận thù không nguôi ngoai, dù đã 10 năm từ
ngày tôi quay về nơi kỷ niệm kinh hoàng để chào các anh em xấu số. Điện
Biên Phủ 1994. Nơi đó tôi đã tìm thấy sự tôn trọng và tôi đã có những người
bạn mới duy trì đến năm 2004. Một tổ truyền hình Việt Nam vừa đến Toul
để quay phim tôi như là một trong những di tích của Điện Biên Phủ.
Những anh bạn trẻ đáng kính, nồng nhiệt đã chào một người đại diện
những chiến sĩ ngày hôm qua. Có ít công bằng khi mà con trai thống chế
Leclerc đã cùng gia đình đến Toul với người cháu của Leclerc, người đứng
nhận Bắc Đẩu Bội tinh từ tay Bigeard. Thật kính trọng cho tôi ! Giữa các
bức tường, các con cháu của Leclerc, một chỉ huy trẻ tài ba, được những
người có vinh dự phục vụ yêu quý; đã có mối liên hệ bền vững với tôi mà tôi
còn giữ đến hơi thở cuối cùng. Điện Biên Phủ ! Tôi đã và sẽ chắn chắn quay
lại để tìm những anh em mất tích trên mảnh đất thấm máu họ, Mảnh đất mà
tôi rất yêu quý- Marcel Bigeard.
1945-1947: “Đội quân Bigeard”
09-1945, Nhật đầu hàng và rời Đông Dương. HCM lãnh đạo du kích
cộng sản lợi dụng tình hình tuyên bố độc lập. Nước Pháp gởi tướng Leclerc
chỉ huy quân viễn chinh đến tái lập quyền hành. Đại úy Bigeard đã tham gia.
Ông tình nguyện lên vùng cao Bắc kỳ để tiếp tục chiến đấu chống Việt
Minh.
1945, lúc đó tôi 19 tuổi và đã đi một đoạn đường dài. Tham gia nhóm
lính Franc năm 1940, nhóm biệt kích đương thời, tù binh của Đức quốc xã
18 tháng và tôi đã vượt ngục. Thực tập nhảy dù biết kích bên Anh, được thả
dù bên phòng tuyến đức vào tháng 8-1944, Tôi giải phóng Ariège với một
toán quân nhảy dù và du kích quân: lúc đó tôi trong trung đoàn bộ binh thuộc
địa số 23, bộ binh của hải quân.
Theo lời kêu gọi của Leclerc
Tháng 10, Tôi cùng đại đội lên tàu từ Marseille đi Đông Dương. Quân
Nhật đã chiếm hòn ngọc của chúng tôi nhiều năm nay. Khi họ rút đi, ông Hồ
Chí Minh tuyên bố VN độc lập. Việt minh đã nổi lên khắp nơi. Và phải thiết
lập lại sự hiện diện của Pháp. Tôi biết đó là một chuyện khó khăn. Tôi ra đi
vì nhiệm vụ thế thôi. Tôi hãnh diện phục vụ dưới quyền tướng Leclerc.
Tướng Leclerc là một lãnh đạo thật sự. Một ý chí mạnh mẽ, một sĩ quan gần
gũi với thuộc cấp, nhạy bén với tinh thần quân đội. Và một quá trình oanh
liệt của ông ! Chiến dịch Pháp, tù binh Đức, vượt ngục, đi theo de Gaulle ở
[4]
Londres, Anh hùng của 2èmeDB , ờ Tchad, Bắc Phi, Giải phóng Paris…
Chúng tôi chen chúc trên chiếc tàu chở lính Stamforg-Victory cũ kỹ.
Trời nóng kinh khủng. Thỉnh thoảng phải leo lên để thở. Một không khí ẩm.
Cuộc hành trình chậm chạp. Để giết thì giờ, chúng tôi đã đánh bài phé với
các trung úy của chúng tôi. Sau ba tuần hành trình, nhiều người trong số họ
đã gom được nhiều tháng lương. Giác quan thứ 6 của tôi đã chơi hết mình.
Trong cuộc hành trình với một ít thông tin ở Đông Dương tôi biết quân
Anh và quân Tàu đã sang Việt Nam từ 09-1945 để lo giải giới quân Nhật.
Tướng Leclerc chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã đến Việt Nam đầu tháng 10.
Ông đã chiếm Nam Kỳ bằng xe tăng. Quân Việt Minh đã tạm rút vào rừng.
Chúng tôi phải chống đỡ và lo bình định nơi họ đi qua.
Tháng 11, Tôi đặt chân lên Sài Gòn. Tôi chưa biết rằng tôi sẽ trải qua
những năm đẹp nhất của đời tôi trên một đất nước mà tôi không bao giờ
quên. Tôi sẽ rong ruổi trên xứ Bắc Kỳ, xứ Thái gần suốt 10 năm. Tiểu đoàn
của tôi phải đóng tại các điểm chốt ngăn chặn ở Gia Định cách Sài Gòn vài
cây số. Một ngàn người trong một ngôi làng nhỏ mà tôi khó chịu chóng mặt
với các tôn ti trật tự của họ. Cuối cùng là một nhiệm vụ rõ ràng đến với tôi:
bình định Đồng Tháp Mười, Lùng sục vào làng tìm nơi giấu vũ khí ngoài
đồng. chúng tôi ít bị thiệt hai nhưng kết quả thất vọng. chỉ huy cấp cao thì
khoe khoang. Không một làng nào chống cự chúng tôi. Thật vậy, địch tránh
khi chúng tôi đến và vừa khi chúng tôi đi thì họ quay lại. tôi cảm thấy chúng
tôi đánh giá sai vì đây không phải là cuộc chiến chống quân Đức mà là cuộc
chiến chống du kích, Tôi hiểu phương pháp của họ: tôi đã thực hiện tại
Arìèges. Ba, bốn tháng trôi qua…Trong vài tháng xe tăng chúng tôi đã giải
phòng Nam Kỳ và Trung kỳ... và chẳng được gì.
Đầu tháng 3-1946, Tướng Leclerc với vài đơn vị của 2e DB đã chiến
hết Nam Kỳ và Trung Kỳ. Ông biết mấu chốt của vấn đề nằm tại Bắc Kỳ.
Tình hình phức tạp hơn. Việt Minh chiếm Bắc Kỳ và quân Tàu giờ là đồng
minh của họ. Họ đến để chiếm Bắc Kỳ và giải giới quân Nhật. Lúc này các
chính trị gia phải làm việc với nhau. Một hiệp ước đã ký với họ và chúng tôi
[5]
có thể đi vào Bắc Kỳ. Nhóm quân 23e RIC là những nhóm đầu tiên đáp tàu
ở Hải Phòng. Chúng tôi lại lên tàu đi dọc 500km từ Nam Kỳ, Trung Kỳ và
đến Bắc Kỳ.
Ngày 5-3, đến vịnh Hải Phòng, chúng tôi xuống tàu ngày hôm sau.
Leclerc muốn làm một tiếng vang. Trấn an vài ngàn lính Pháp đã mệt mỏi
với những tháng vừa qua và làm ấn tượng với Việt Minh. Chúng tôi phải
chỉnh trang đầu tóc, áo quần, giày ủng, súng ống để cho hoàn hảo bề ngoài.
Chúng tôi đứng hết lên boong để ngắm xứ Bắc Kỳ vốn đã có cái gì đó khó
tả.
Thình lình một tràng súng máy và đại bác nổ vang. Một chiếc tàu đổ bộ
cháy trước mặt tôi. Ciais, anh trung úy quân y trẻ trúng đạn đổ máu cạnh tôi.
Bình thường mỗi khi anh bắt mạch tôi, anh nói:
- “Bigeard, hơn 10 phút để sống...hơn 5 phút để sống…”
Súng quân Tàu tiếp tục nổ. Điện đài tôi bị phá làm đôi do đạn pháo. Tôi
còn thấy cơ bắp anh run rẩy. Sau cùng khoảng một giờ sau, Leclerc ra lệnh
trả đũa. Đại bác của chiếc Triomphant nổ lên bắn trung mục tiêu. Xác quân
Tàu bay tung lên. Họ liền giơ cờ trắng. Một cuộc thương lượng dài dòng
mới. Họ xin lỗi. Quả là một sự lầm lẫn khó tin.
Cuối cùng tàu chúng tôi cập bến ngày 8-3. Dân Pháp ra đường để nồng
nhiệt đón chúng tôi. Họ dường như được trút một gánh nặng. Tôi hiểu điều
này. Nhiều người Pháp chúng tôi đã bị Việt Minh giết trong biến cố tháng 91945.
Lúc này sự yên tĩnh trở lại giống như kiểu tình hình ở Sài Gòn. Hàng
chục anh em lính đứng ra ngã tư. Tôi thấy quá đáng. Giống như sau khi nhảy
dù phía quân Đức, tôi phải làm cảnh sát điều khiển giao thông… Quả là tôi
quên sạch các mốc thời gian bấy giờ, không còn gì rõ ràng. Quân Tàu vẫn ở
đó, Chúng tôi buộc chịu sự lục soát của họ. Lúc này, Leclerc hiểu tình hình
và ra Hà Nội để thương lượng với Hồ Chí Minh. Quân đội chúng tôi ở hầu
hết Đông Dương nhưng ông hiểu rõ hơn ai khác rằng việc này hão huyền.
Ông thấy rõ rằng người ta không thể đối đầu một dân tộc muốn độc lập.
Các hiệp ước đã ký. Pháp và Bắc kỳ giờ sống chung nhau với lợi nhiều
hơn hại. Chúng tôi tuần tra chung: mười anh thủy quân lục chiến, 10 lính
Việt Minh. Chúng tôi nhìn nhau lạnh lùng. Không có gì thân thiện. Thật sự
là nghi ngờ lẫn nhau. Tệ hơn lúc còn xem nhau như kẻ thù.
Tôi biết anh Quilichini, 34 tuổi, người của Leclerc, giờ đã lên trung tá,
yêu cầu các đại úy lên vùng cao nơi cuộc chiến tiếp diễn. Các đơn vị của
Pháp từng phải rút sang Tàu với tướng Alessandri trước khi quân Nhật tấn
công vào tháng 3-1945, phải được điều động trở lại. Tôi tình nguyện đi lên
vùng cao.
Ngày 1-7, tại phi trường Cát Bi gần Hải Phòng cách Điện Biên Phủ
300km. Lần đầu tiên tôi bay trên đất Thái đồi núi chập chùng phủ rừng bát
ngát khiến con người nín thở mà nhìn. Chiếc Dakota hạ cánh. Quả thật yên
tĩnh. Một thung lũng nhỏ thơ mộng, những người dân mỉm cười thân thiện
và những người đàn bà đẹp hiếm thấy.
Chiến dịch đầu tiên tại vùng cao
Tôi theo Quilichini lên Tuần Châu. Anh nói rõ tôi nhiệm vụ và phương
tiện: “Anh nên thành lập đội biết kích với tàn quân Tàu và tung hoành hậu
phương của Việt Minh”. Tôi thích việc này vì cuối cùng mọi chuyện đã rõ
ràng. Hàng trăm người của tôi từ các đại đội khác đến gia nhập. Đó là một
sân chơi kỳ diệu: áo quần rách rưới, mệt mỏi. có dấu hiệu bệnh lỵ.. Chỉ có
một điểm tích cực là vũ khí vẫn được bảo trì hoàn hảo. Tôi thấy họ có ý xóa
đi cái mặc cảm thất bại trước quân Nhật. Giới chỉ huy có lý khi cần phải thay
máu để làm sáng tỏ những công cụ mệt mỏi. Tôi lập 4 đội biết kích gồm 25
người. Chúng tôi ra đi với chừng 3 đến 4 đơn vị. 1 đến 2 đơn vị ra đi mỗi
tuần. Chúng tôi hành quân khẩn trong đêm, để tấn công Việt Minh lúc hứng
sáng và chúngtôi rút lui theo những lộ trình bí mật vạch sẵn. Tin tình báo
hoàn hảo, tấn công chớp nhoáng trong vài phút và biết mất trong rừng.
Việt Minh giờ là chúng tôi! chúng tôi dùng cùng phương cách, kể cả
cách ăn mặc như Việt Minh... Tôi , cũng như người của tôi, đi chân không,
chỉ mặc quần cụt, lựu đạn giắt lưng, đeo súng carbine . Bề ngoài chúng tôi
không giống quân đội Pháp mà giống kiểu dân da đỏ miền Tây nhưng tinh
thần sấm sét và kết quả thu được đã tự nói lên tất cả.
Trong 4 tháng, hàng chục trận liên tiếp thành công. Xứ này đã ăn sâu
vào da thịt tôi và tôi xem như là ở nhà của mình.
Tháng 10, chúng tôi chia tay nhau trong nuối tiếc. Những người của tôi
đã học cách sống trong thiên nhiên, tách biệt những cái đê tiện của con
người. Nhất là sau vài tuần, nhưng người nọ đã tìm lại sự hãnh diện của
mình. Họ quay về khi đã hoàn thành nhiệm vụ trong chiến thắng. Về phần
tôi, không có lý do nào để ra đi. Trong khi đó ông Hồ Chí Minh đang trải
những ngày mùa hè ở Pháp để thương thuyết cho nền độc lập. Sự việc vẫn bế
tắc. Chỉ có một tạm ước đến tháng giêng 1947. Ông sẽ không cầm cự nổi.
20-11, sau nhiều biến cố, hạm đội của Pháo nã đạn vào khu phố Tàu ở
Hải Phòng. Vào tháng 12, cuộc tổng nổi dậy nổi lên. Tôi chỉ huy đại đội 3
tiều đoàn tự trị Thái, được tăng cường thêm vài lính du kích. Chúng tôi
khoảng 400 quân thiện chiến, rành rẽ địa hình và một nhúm sĩ quan Pháp để
chỉ huy. Những sĩ quan từ trường Sant-Cyr ít khi ra trận nhưng thích nghi
nhanh theo tôi.Chúng tôi mau chóng thành “đạo quân Bigeard”.
Chưa đầy 1 năm, chúng tôi đã chiếm được toàn bộ xứ Thái đen từ tay
Việt Minh. Một cuộc tấn công gần 120km. Dân chúng ủng hộ chúng tôi hoàn
toàn. Người Thái là một sắc dân riêng, với chỉ huy, già làng, tập tục riêng và
họ ghét dân Bắc Kỳ. Trong mỗi làng, chúng tôi được tiếp đón như những
giải phóng quân, được lo ăn ở.. Quá ngon lành!
31-12, tôi nhận lệnh chiếm Sơn La trên đường số 41 băng xuyên vùng
cao nguyên Bắc Kỳ. Tôi lại ra đi với quân của tôi gồm bốn đại đội biệt kích.
Người Thái đã mở cho chúng tôi những con đường, mà Việt Minh không hề
biết. Chúng tôi hành quân trong 2 ngày ròng rã và mang theo súng cối, điện
đài, đạn pháo với mức lương thực tối thiểu.
Sáng ngày 2-1-1947, chúng tôi đến Mường La. Chúng tôi quan sát ống
nhòm thấy quân Việt Minh và chúng tôi đặt cối trên các điểm cao. 100 quả
pháo kích dội xuống. 2 phân đội của tôi tràn ra và chiếm ngôi làng dễ dàng.
Chúng tôi tiếp tục hành quân nhanh qua Sơn La đến một ngôi làng nhỏ dưới
chân đỉnh núi. Tôi bố trí quân biệt kích các nơi. Một đội biệt kích đến đường
số 41 để đánh lạc hướng địch và gây những tiếng nổ kinh hoàng. Quân Việt
Minh nhào ra đường và lọt bẫy. Chúng tôi ùa ra la hét đồn dập đánh từ sau
lưng địch.
Chúng tôi đã toàn thắng. Khu đồn trú của Việt Minh bị tiêu diệt gọn.
Kết quả: 120 người chết và bị bắt làm tù binh. Thiệt hại chúng tôi gần nhưng
không có gì. Tôi chỉ ở trong làng 48 tiếng và tiếp tục hành quân trong vòng 3
tuần đến Nà Sản và đèo Con Oi.
Đầu tháng 2, chúng tôi ở miệt Yêu Châu và Bản Thìn.
Chúng tôi đã giải tỏa hàng chục km đất đai. Chúng tôi luôn dùng một
chiến thuật duy nhất: tình báo, hành quân đêm, tiếp cận địch lúc mờ sáng sau
đó đánh lạc hướng và tấn công từ trên cao. Chúng tôi sống cuộc sống như
thú rừng, leo trèo núi trên những con đường hiểm trở tường chừng như sức
người không thể vượt qua.
Nhưng số người chết và bị thương bắt đầu tăng dần khiến chúng tôi
phải phục hồi lực lượng. Tôi quyết định dưỡng quân ở Bản Thìn một tháng.
Tôi lợi dụng để điều chỉnh tình hình quản lý, huấn luyện và gia tăng sự ủng
hộ của quân du kích.
Ngày 2-4, điện đài báo tin chúng tôi hay có cuộc hành quân quan trọng
của Việt Minh cách đó vài km. Có hai giải pháp: hành quân đêm và chuẩn bị
đối đầu. Tôi chọn giải pháp thứ hai. Lực lượng phòng vệ chúng tôi đủ mạnh
và đây là một kinh nghiệm tốt để lính của tôi quen chiến đấu. Báo động 48
tiếng được phát ra.
Ngày 4-4 lúc 2 giờ sáng, họ tấn công chúng tôi, vốn đã sẵn sàng từ
trước. Tám giờ chiến đấu bằng súng máy và đạn pháo. Quân Việt Minh rút
lui và tôi quyết định tấn công. Chiến thuật cũ lại áp dụng: nhiều ngày hành
quân, ít giờ nghỉ ngơi, chỉ ăn ít cơm nắm nguội, tấn công lúc mờ sáng.
Chúng tôi dùng cách cũ chiếm được Bản Na nga, Tú Nang,và Mường Lùm.
Ngày 3-5, Chúng tôi kết bè vượt sông Đà đối diện Vân Yên mà chúng
tôi đánh chiếm ngày 8-5. Từ cả tháng nay tôi không hề báo cáo cho cấp trên.
Tôi chỉ báo cáo tin ngắn gọn: “Đã lấy Vân Yên”.
Những tuần này khá thành công. Chúng tôi không hề gặp kháng cự.
Chúng tôi dẻo dai, nhanh nhẹn trên đôi chân thép và sức lực vượt bậc. Việc
chiếm Vân Yên và việc đơn vị khác từ Mộc Châu từ phía nam đến giải tỏa,
xứ Thái đen đã gần như được giải phóng. Tôi quyết định lập bộ chỉ huy
trong vài tháng. Phân đội tôi đóng từ thung lũng Suối Tóc đến Khuê Lang.
Chúng tôi liên lạc với nhau bằng điện đài tạo một hê thống tình báo chặt chẽ,
tiếp xúc dân xứ Thái thường xuyên. Tôi lợi dụng vài tháng này để bình định
xứ này và tảo thanh Việt Minh.
Một giai thoại là: 3 tháng một lần người chúng tôi được gửi đi lấy thư
và đạn dược ở Mộc Châu. Đến phiên trung úy Guilleminot dẫn đầu khoảng
40 lính du kích. Ngay hôm sau, tôi thấy họ quay về không có Guilleminot.
Họ bảo rằng bị Việt Minh phục kích gần sông Đà.. Vài giờ sau, tôi thấy anh
trung úy quay về mặc bộ pyjama trắng trong chiếc dù. Quân Việt Minh đã
bắt anh trong khi ăn mặc như vậy, nhưng trời tối, họ tưởng anh là cô gái trẻ
xứ Thái và họ thả anh đi. Đúng là một vận may. Tôi buộc phải cho anh tin
rằng tôi phạt giam anh 8 củ vì tội đánh giặc mặc đồ ngủ. Nhưng dù sao cũng
may là anh thoát chết.
Mùa thu 1947: Những ngày hành quân của tôi kết thúc và tôi phải kết
thúc cho đẹp. Tôi được báo một bộ chỉ huy Việt Minh và một tiều đoàn cách
40km trong vùng phiến quân. Lính Thái bảo có thể dẫn đường chúng tôi mà
không bị phát hiện. Tôi mang theo 100 quân và hành quân trong 3 ngày. Khi
còn cách bộ chỉ huy địch 2km, tôi cho quân nghỉ và họp ngắn trước khi tấn
công. Một đội xung phong, đội khác phục kích, tôi và quân còn lại tấn công
thẳng vào quân Việt Minh.
Chúng tôi tràn quân tấn công dứt khoát với hỏa lực cối 60 ly yểm trợ.
15 phút sau chúng tôi rút quân. Để lại cho địch 20 xác chết. Bên tôi bắt được
06 tù binh. Tất cả chúng tôi không ai bị thương vong, riêng tôi bị mảnh lựu
đạn vào cổ. Chúng tôi hành quân gấp quay về. đến Vân Yên, tôi nghe anh
em nói: “Ông bạn già còn cầm cự nổi” Tôi không dám mơ đến những lời
vĩnh biệt cảm động như vậy.
Ngày 20-9, Gaby, vợ tôi và con gái Marie-France 2 tuổi đã đón tôi tại
sân bay Orly. Lần đầu tiên tôi gặp con gái mình. Trong bộ chỉ huy của tôi tại
Vân Yên, tôi đã treo hình bé gái của tôi quấn khăn tã trắng. Khi xa người
thân, người ta buộc phải sống với kỷ niệm với vài bức ảnh hay thư từ hiếm
hoi…
1948-1950: Lãnh chúa chiến tranh xứ Thái
Tháng 10-1947 đến tháng 2-1948. Bốn tháng về phép. Tôi về Toul với
vợ Gaby và đứa con gái Marie-France. Tôi lại phải khó khăn để làm quen lại
cuộc sống tại Pháp. Một đất nước chật chội, thức ăn quá bổ dưỡng khiến tôi
bệnh, chân tôi không còn quen mang giày. Tôi đã tốn tiền cho hai năm tôi
làm việc quá sức.
Tôi không theo dõi những gì xảy ra ở Đông Dương. Báo chí hầu như
không nói gì. Đó là cuộc chiến không được biết đến. Tôi đau lòng vì tôi nghĩ
đến sự anh hùng của các anh em chiến hữu, của những trung úy đã hy sinh.
Việc đó chì làm tồi tệ thêm… Tướng Valuy thay thế Leclerc, tiếp tục những
chiến dịch quy mô vô ích. Tôi rời Bắc kỳ lúc xảy ra cuộc tấn công mùa thu.
Chắc chắn Việt Minh đã rút vào bí mật. Người Pháp tiếp tục theo đuổi cuộc
chiến kinh điển trong khi cần phải có đạo quân chống du kích, tức là cần
phải có tin tình báo, tính linh hoạt, cơ động, rành rẽ địa hình như đối
phương. Chính trị là phải thủ đoạn. Chắc chắn người Pháp không hiểu gì..
Giải pháp Bảo Đại bù nhìn lại không được ai công nhận. Đó không phải là
thực hiện việc trao trả quyền giả tạo để trấn an Việt Minh. Người ta phải tìm
giải pháp để đánh hay phải rút về nước.
Dù vậy tôi quyết định tình nguyện sang Đông Dương lần thứ hai với
máu phiêu lưu và nhất một ít…bổn phận của mình. Chết cho tổ quốc là số
phận vinh quang nhất… Tất cả những mỹ từ mà những người thầy đã dạy
cho tôi mà tôi còn tin tưởng… Và cũng là ước muốn để được chiến đấu bên
cạnh các anh em. Nhất là trở lại vùng cao nguyên mà tôi từng lẩn trốn con
virus của …bệnh “da vàng”.
Từ tháng 2 đến tháng 10, chín tháng ở Saint-Brieuse để huấn luyện
một đại đội nhày dù. Lúc này vợ con ở bên cạnh tôi. Chúng tôi ở trong một
ngôi nhà nhỏ gần trại huấn luyện và chỉ chiều chúng tôi mới có thể gặp nhau.
Việc huấn luyện căng thẳng và không lúc nào nghỉ ngơi. Việc này không làm
tôi không vui vì tất cả phải làm lại từ đầu, tận dụng kinh nghiệm của tôi dạy
cho những tân binh, nêu lý do tuyển dụng họ và tạo dựng tinh thần…Sau đó
là huấn luyện : đi bộ 10-15 km hàng ngày, hành quân dồn dập, bắn theo bản
năng, sử dụng la bàn đột kích ban đêm, và tất nhiên là có nhảy dù. Cường độ
tập luyện cao duy trì và cuộc sàng lọc gắt gao với 2/3 bị loại. Đó là việc cần
thiết vì phía Việt Minh cũng không ngớt củng cố trang bị… Ở Đông Dương,
không ai được phép sai lầm.
Sau vài tháng, chúng tôi đến trai huấn luyện ở Meucon để tập nhảy dù
nhiều tuần. Điều kiện khí tượng không quan trọng và ngưới lính dù luôn phải
sẵn sàng. Chúng tôi thường bị gió thổi đi, tiếp đất trên đường băng cứng,
thỉnh thoảng còn bị kẹt vào các nhà kho lân cận. Những người giỏi nhất cố
ứng phó để thoát ra. Những người khác phải nhập viện. Thế còn hơn là bị
chết tại trận. Khi chúng tôi ra đi vào tháng 10, tôi có thêm công cụ hoàn hảo
sẵn sàng chiến đấu: những người của tôi. Tất cả đều có bằng nhảy dù với
những bước đi kiêu hãnh.
[6]
26-10-1948, tiều đoàn 3e BCCP từ Marseille lên tàu Pasteur. Chiếc
tàu đã không ngừng đi lại giữa Pháp và Đông Dương trong suốt cuộc chiến
để chuyển tân binh vốn đang háo hức và vừa tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra cho
mình. Gaby và con gái Marie-France đã ra bến tiễn tôi với những từ giã cảm
động như mọi người khác nhưng không bịn rịn. Tôi sẽ luôn phục vụ quân đội
nơi nào có giao tranh. Không khí sôi sục trên tàu. Người của tôi hơi căng
[7]
thẳng. Với chúng tôi, Các cô PFAT là những người tuyệt vời tham gia
những công việc đáng ngưỡng mộ ở Đông Dương.
Các chặng dừng chúng tôi đi qua: Aden, Suez, Colombo, Sumatra.
Singapour...không khác lần trước. Lần này tôi đã thay đổi so với chuyến đi
lần trước. Tôi trờ nên ngoan ngoãn hơn trong hầm và nghĩ đến vợ con và
điều mà gia đình đang mong chờ ở mình.
Tháng 11, lần thứ hai tôi cập bến Sài Gòn. Không có gì thay đổi. Tôi
luôn không thích cái thành phố vốn tách biệt với chiến tranh này với mấy sĩ
quan cao cấp huênh hoang chưa từng đặt chân vô rừng rậm. Sau vài tuần
không kết quả, tiểu đoàn chúng tôi chiếm một ngã tư rất gần thành phố. Tôi
trở nên sôi sục vì đã bỏ 12.000km sang đây để làm nhân viên cảnh sát…
Cũng may mắn cho tôi: đại đội tôi được điều ra Bắc Kỳ. Sự thật tôi đã là
chuyên gia của xứ này. Và cũng không hứng khởi gì hơn. Tôi tham gia
những chiến dịch lớn mà tôi không đồng ý và tôi cũng không có sáng kiến
gì. Đại đội tôi hoạt động trong vùng châu thổ bằng cách bổ sung quân cho
các đơn vị khác. Tôi thấy tiếc cho các phương pháp điều hành kinh điển của
bộ tham mưu đã không hề thay đổi để hòng bắt một kẻ thù không thể nào bắt
được. Khi chúng tôi rầm rộ tiến quân bằng xe tăng và máy bay thì Việt Minh
đã có thừa thì giờ để rút lui. Việc đó cứ như dùng búa tạ đập ruồi! Người ta
vẫn luôn không chịu biết rõ cuộc chiến tranh chống du kích ra sao. Ở Hải
Phòng, cuộc sống êm ả không làm tôi thích thú pha chút nhớ nhà. Quán Café
du Commerce luôn đông đảo gái Việt và Tàu quyến rũ đứng chờ khách…
Trong không khí luôn đơn điệu. họ xem như cuộc chiến quá xa xôi và Việt
Minh cứ thế mà lấn chiếm gặm nhấm dần. Họ đã chiếm lại xứ Thái. Người
Pháp chỉ còn giữ những thành phố lớn. đường sá và vài đồn bót giữa rừng.
Tôi nhớ lại 18 tháng tôi tung hoành xứ Thái. Chúng tôi chơi ngang cơ với
quân Việt Minh với những chiến thắng được chứng minh qua số vũ khí thu
được và số địch bị diệt.
Tôi tưởng tượng những gì tôi sẽ từng làm với đại đội tôi một cách trơn
tru. Giờ thì những gì tôi dạy họ chẳng xài gì được trong lúc này: những cuộc
hành quân đêm, bắn theo bản năng, chuẩn bị phục kích.. Quả làm một thất
vọng lớn. Ngày mai sẽ biết.
Các biến cố dồn dập xảy ra. Đồn Yên Châu vùng cao vừa bị tấn công.
Một nhúm quân người Pháp và du kích Thái chống cự chật vật với nhiều đại
đội Việt Minh. Biết rõ tôi nắm địa hình, bộ chỉ huy đã thả dù đơn vị tôi
xuống. Cuối cùng một chiến dịch thật sự đã chứng minh khả năng lính của
tôi. Tôi tin tưởng tuyệt đối đội quân hùng mạnh của tôi luôn sẵn sảng chiến
đấu khi cần thiết.
Ngày 18-1-1949, Tại sân bay Cát Bi gần Hải Phòng, nhiệm vụ nhảy dù
đầu tiên được giao. Ai nấy cũng khoe khoang để thư giãn và kiểm tra lần nữa
trang bị của mình. Chúng tôi lên máy bay. Máy bay cất cánh và Hải Phòng
biến xa dần lúc bình binh. Tiếng chong chóng máy bay ồn ào khiến chúng tôi
không thể trò chuyện nhau. Tôi ngồi sát cửa đi đang mở của máy bay. Xứ
Thái đang hiện ra dưới chân mình và tôi thấy hạnh phúc nhảy dù lần đầu tiên
trên xứ này. Con đường tỉnh lộ 41 như dãy lụa bên dưới giờ đang bị Việt
Minh kiểm soát.
Lúc 10 giờ sau chúng tôi đã cách Hải Phòng 200km. Phi công thông
báo chúng tôi đến Yên Châu: Cái đồn bót bằng tre vẫn còn đó, trên đỉnh núi
mà tôi đã chiến đấu trong những ngày đầu tiên. Tất cả các anh em đứng dậy,
móc đai sẵn sàng nhảy. Go! Các anh em nhảy theo tôi. Quả là yên tĩnh. Một
chút hạnh phúc trong trẻo khi thả dù lơ lửng. Trên đầu tôi, các anh em nối
nhau theo sau nhanh chóng. Những chiếc dù trắng bung ra trên trời xanh.
Chúng tôi thấy quân Việt Minh bỏ trốn. Tôi có cảm giác làm chủ cả thế giới
khi đến để cứu viện.
Một cú tiếp đất mạnh làm tôi quay về thực tế. Chúng tôi gom quân lại
và đi về hướng đồn. Lính trong đồn vui mừng khi thấy chúng tôi đến tăng
viện. Anh chỉ huy người Corse tên Paccioni nồng nhiệt đón chúng tôi. Anh
bị điếc tai và tôi phải nói lớn tiếng nói với anh. Paccioni kể lại chuyện bị tấn
công. Chúng tôi chăm sóc thương binh và tuần tra xung quanh để giải tỏa
đồn.
Đêm đến, chúng tôi phải đi bộ tải thương binh đến Nà Sản cách đó
40km với 6 tiếng đi bộ. Ở Nà Sản, xe tải đã chờ và chở chúng tôi đến bệnh
viện Sơn La. Chúng tôi quay ngược về đồn sau vài ngày nghỉ dưỡng. Anh
chỉ huy Paccioni hãnh diện về lính nhảy dù và cầm cự tập kích. Anh giải
thích rằng khu đất hoàn toàn vững chắc và quân Việt Minh đã trốn khi chúng
tôi đến. Tôi chỉ tin phân nửa. Tôi đề phòng gởi đi 6 người làm trinh sát.
Công viện tiếp tục khó nhọc trong không khí nóng nực. Thình lình một loạt
đạn bắn ra và nhóm trinh sát bị tiêu diệt với nhiều người bị thương. Tôi xả
hết băng đạn và la: “ Bắn hết ga! Bắn phủ đầu về hướng Việt Minh !”
Nhóm chúng tôi bình tĩnh ứng phó. Mỗi người đều ở tại vị trí phục kích
tốt sẵn sàng đón đánh quân Việt Minh. Họ rút lui vì biết rõ không thể tiến
lên. Chúng tôi gom xác chết, chăm sóc thương binh và rút cẩn thận. Tôi tự
giận mình vì vì sao mình đã lọt vào cái bẫy quá thô thiển. Tôi biết phải làm
lại từ đầu. Đó là một bài học do lỗi của tôi làm nhiều người chết. Hôm sau
tôi một mình đi trên con đường bị phục kích để chứng minh cho người của
tôi biết rằng tất cả đều tốt.
Tôi ở đây hơn 8 tháng đến tận tháng 9 trong vùng Chien Dong với
nhiệm vụ tảo thanh khu vực và triệt tiêu quân Việt Minh từ sông Hồng lên.
Người chỉ huy cũ đã chuyển đi và tôi phải quản hết các đồn bót hiện có với
hơn 1.000 lính Thái. Tôi vẩn luôn là đại úy gắn bó với đại đội và phải báo
cáo lên chỉ huy. Nhưng theo thói quen, người ta tin tưởng giao mọi trách
nhiệm cho tôi vốn cao hơn cấp bậc hiện tại. Tôi nhanh chóng lập bộ chỉ huy
trên đỉnh núi Chien Dong. Tôi thiết lập hệ thống tình báo thật sự. Quan đầu
tỉnh gửi đến tôi một người nhà của ông thên Théo Văn Thục để làm một
công việc ngoại lệ. Dân chúng nâng đỡ và thông báo tin tức cho chúng tôi.
Mỗi trung úy của tôi nhận đảm trách một vùng hoạt động và chúng tôi
thường xuyên hành quân tập kích. Nhóm đã hoạt động 3.000 chuyến. Chúng
tôi không giống như những lính giữ đồn khác! Vài nhóm quân đóng không
quá xa căn cứ để phòng vệ… Chúng tôi luôn làm nhiệm vụ săn tìm Việt
Minh tại những nơi mà họ xem như là an toàn với họ.
Một chiều nọ tôi quay về và nhận bức điện: “ Đến Sài Gòn. Gaby”. Vợ
tôi, cũng cứng đầu giống tôi với cái máu phiêu lưu. Tiếc rằng tôi không thể
đi đón vợ như hầu hết người khác. Một chỉ huy đề nghị cho người đi theo
tôi. Tôi điện cho một người bạn nhờ đón vợ tôi. Cuối cùng, được giấy thông
hành và vợ tôi đến ở Sơn La tại nhà một nhân viên hành chính trong vùng
quân sự, nơi dân thường không được đến! Xem như cho tôi yên tâm rằng vợ
ở bên cạnh mình.
6 tháng sau, Tôi phải về Hà Nội với 3e BCCP gắn bó của mình. Chỉ
huy cấp cao khen ngợi công trạng tôi nhưng tôi không hoàn toàn thỏa mãn.
Tôi đã mất 30 người. Đó là quá đáng do tôi đã nóng lòng đánh nhanh. Tôi
hứa lần sau sẽ thận trọng hơn. Khi đọc kết quả báo cáo, ông tướng chỉ huy
Alessandri quyết định giữ tôi trên vùng cao. Tôi lo thành lập tiểu đoàn lính
Thái BT3 gồm lính tình nguyện. Số người tình nguyện đông khiến tôi phải từ
chối bớt. Người Thái vốn thù dân Bắc Kỳ xưa nay. Có thêm vài sĩ quan và
hạ sĩ quan Pháp từ châu thổ sông Hồng gởi lên cho tôi.
Ngày 1-10, tiểu đoàn 3e BT đượcthành lập. Tôi giờ có 5 đại đội c...
PHẦN 1: CUỘC CHIẾN.. 4
Ngày 7-5-1954, đúng 17 giờ 30, Điện Biên Phủ thất thủ. Đã đúng
nửa thế kỷ. 5
1945-1947: “Đội quân Bigeard”. 6
Theo lời kêu gọi của Leclerc. 6
Chiến dịch đầu tiên tại vùng cao. 9
1948-1950: Lãnh chúa chiến tranh xứ Thái 12
Cao Bằng, sự tệ hại! 17
1952-1954: Từ Tú Lệ đến Điện Biên Phủ. 18
Một tiểu đoàn lính mới và lính già. 19
Mất Nghĩa Lộ, lại rắc rối 21
Quân Việt Minh theo sát gót và chúng tôi phải rút quân. 23
Một nhiệm vụ nhảy dù đầu tiên ngoạn mục. 25
1er RCP, tiều đoàn tinh hoa khác. 27
Lạng Sơn, hang kho tàng. 29
Những đợt sóng đầu tiên tại Điện Biên Phủ. 31
Tiểu đoàn 6e BPC lập thêm chiến công. 33
Lại bắt đầu phiêu lưu. 35
Tấn công ! Thà phản ứng hơn là chịu đựng. 36
Cuối tháng 2, Cogny triệu tập tôi 36
Người của tôi: tin tưởng và gắn bó nhau. 38
Tăng viện đến nhưng quá trễ. Hà Nội không hiểu gì cả. 44
Kiệt sức, chán ngán, tiếp tục chiến đấu. 47
Bị cầm tù, bốn tháng kinh hoàng tột độ. 49
PHẦN 2: THĂM LẠI ĐÔNG DƯƠNG.. 52
PHẦN 3: PHỤ LỤC.. 58
Cuộc chiến Đông Dương của tôi – Marcel Bigeard
Tôi chân thành cảm ơn Tướng Trần Văn Quang và đại tá Phạm Xuân
Phượng đã nồng nhiệt tiếp đón tôi ở VN. Tôi gởi lời cảm ơn đến các ông:
Phạm Văn Nam, René Lepore, Jean-Claue Criton, daniel Maillot, Eric
Bouver, Fréderic Helbert đã giúp đỡ thực hiện quyển sách này.
Cùng với lời cảm ơn đến Cơ quan SIRPA/ECPA đã nghiên cứ và lưu
trữ những hình ảnh chiến tranh Đông Dương và Cơ quan ảnh báo chí
GLMR.
Tôi luôn nói rằng tôi chỉ trở lại Điện Biên Phủ với nắm tro xác được thả
dù để gặp lại những anh em mà tôi không bao giờ quên đã chôn rải rác trong
thung lũng xa xôi này. Dù sao tôi đã trở lại trước khi nhảy dù lần cuối cùng
để nói lên, và còn nói về cuộc chiến Đông Dương và Điện Biên Phủ không
bao giờ quên. Tôi đã quay lại khi còn sống để tưởng nhớ tất cả các anh em
binh sĩ.
Tựa quyển sách có vẻ kiêu kỳ nhưng chỉ là một bằng chứng những gì
tôi đã sống. Qua những hình ảnh cảm động, anh hùng và hy sinh.
Ngày nay Việt Nam và Pháp là những người bạn mới, Người Việt Nam
đã nói: “ Người Pháp các anh có trái tim nhưng không có tiền, Người Mỹ có
tiền nhưng không có trái tim, người Nga không có cả hai”.
Sau khi tuyên bố như vậy, làm sao người ta có thể thoát khỏi căn bệnh
[1]
“da vàng ” ? (Bigeard)
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
[2]
PHẦN 1: CUỘC CHIẾN
Ngày 7-5-1954, đúng 17 giờ 30, Điện Biên Phủ thất thủ.
Đã đúng nửa thế kỷ
Dù đã qua nhiều năm, tôi còn thấy buồn cho những ai đã cho quá nhiều
trong cuộc “chiến tranh bẩn thỉu”. Đúng vậy, đã đau khổ về kỷ niệm về
những ngày cuối trong trận mưa pháo, súng đạn và địa ngục. Rừng đã bị tàn
phá như những con người đã chiến đấu và chết từng lúc. Tất cả các chiến sĩ
[3]
bị bỏ rơi do thế lực chính trị không hiểu gì khi dàn organ Staline dội trên
đầu chúng tôi.
Không còn hàm trú, không còn trạm phẫu thuật nào còn nguyên để
chăm sóc thương binh cố đứng dậy chiến đấu dù biết rằng phải kết thúc.
Thắng hay thua trong danh dự là hy vọng duy nhất của chúng tôi. Cố cầm cự
một ngày là hy vọng một phép lạ. Thế giới tự do không thể bỏ rơi chúng tôi !
Lúc 17h30, cuộc chiến kết thúc. Chúng tôi không biết sau trận chiến
chúng tôi phải đối mặt cuộc chiến khác ghê gớm hơn: chống lại cái chết từ từ
và cái chết tinh thần. Những người sống sót bắt đầu những bước đi cuối cùng
về các trại tù má ít ai có thể sống sót trở về. Không thể tin được! Trong tình
trạng hỗn độn ấy, chỉ còn chỉ còn vết tích những giá trị mất dần theo thời
gian: tình anh em keo sơn do đồng cam cộng khỗ cách biệt hẵn với sự đê tiện
của con người, tình thương của nước Mẹ, lòng anh hùng và ý nghĩa của sự
hy sinh.
Người ta tưởng rằng lòng hận thù không nguôi ngoai, dù đã 10 năm từ
ngày tôi quay về nơi kỷ niệm kinh hoàng để chào các anh em xấu số. Điện
Biên Phủ 1994. Nơi đó tôi đã tìm thấy sự tôn trọng và tôi đã có những người
bạn mới duy trì đến năm 2004. Một tổ truyền hình Việt Nam vừa đến Toul
để quay phim tôi như là một trong những di tích của Điện Biên Phủ.
Những anh bạn trẻ đáng kính, nồng nhiệt đã chào một người đại diện
những chiến sĩ ngày hôm qua. Có ít công bằng khi mà con trai thống chế
Leclerc đã cùng gia đình đến Toul với người cháu của Leclerc, người đứng
nhận Bắc Đẩu Bội tinh từ tay Bigeard. Thật kính trọng cho tôi ! Giữa các
bức tường, các con cháu của Leclerc, một chỉ huy trẻ tài ba, được những
người có vinh dự phục vụ yêu quý; đã có mối liên hệ bền vững với tôi mà tôi
còn giữ đến hơi thở cuối cùng. Điện Biên Phủ ! Tôi đã và sẽ chắn chắn quay
lại để tìm những anh em mất tích trên mảnh đất thấm máu họ, Mảnh đất mà
tôi rất yêu quý- Marcel Bigeard.
1945-1947: “Đội quân Bigeard”
09-1945, Nhật đầu hàng và rời Đông Dương. HCM lãnh đạo du kích
cộng sản lợi dụng tình hình tuyên bố độc lập. Nước Pháp gởi tướng Leclerc
chỉ huy quân viễn chinh đến tái lập quyền hành. Đại úy Bigeard đã tham gia.
Ông tình nguyện lên vùng cao Bắc kỳ để tiếp tục chiến đấu chống Việt
Minh.
1945, lúc đó tôi 19 tuổi và đã đi một đoạn đường dài. Tham gia nhóm
lính Franc năm 1940, nhóm biệt kích đương thời, tù binh của Đức quốc xã
18 tháng và tôi đã vượt ngục. Thực tập nhảy dù biết kích bên Anh, được thả
dù bên phòng tuyến đức vào tháng 8-1944, Tôi giải phóng Ariège với một
toán quân nhảy dù và du kích quân: lúc đó tôi trong trung đoàn bộ binh thuộc
địa số 23, bộ binh của hải quân.
Theo lời kêu gọi của Leclerc
Tháng 10, Tôi cùng đại đội lên tàu từ Marseille đi Đông Dương. Quân
Nhật đã chiếm hòn ngọc của chúng tôi nhiều năm nay. Khi họ rút đi, ông Hồ
Chí Minh tuyên bố VN độc lập. Việt minh đã nổi lên khắp nơi. Và phải thiết
lập lại sự hiện diện của Pháp. Tôi biết đó là một chuyện khó khăn. Tôi ra đi
vì nhiệm vụ thế thôi. Tôi hãnh diện phục vụ dưới quyền tướng Leclerc.
Tướng Leclerc là một lãnh đạo thật sự. Một ý chí mạnh mẽ, một sĩ quan gần
gũi với thuộc cấp, nhạy bén với tinh thần quân đội. Và một quá trình oanh
liệt của ông ! Chiến dịch Pháp, tù binh Đức, vượt ngục, đi theo de Gaulle ở
[4]
Londres, Anh hùng của 2èmeDB , ờ Tchad, Bắc Phi, Giải phóng Paris…
Chúng tôi chen chúc trên chiếc tàu chở lính Stamforg-Victory cũ kỹ.
Trời nóng kinh khủng. Thỉnh thoảng phải leo lên để thở. Một không khí ẩm.
Cuộc hành trình chậm chạp. Để giết thì giờ, chúng tôi đã đánh bài phé với
các trung úy của chúng tôi. Sau ba tuần hành trình, nhiều người trong số họ
đã gom được nhiều tháng lương. Giác quan thứ 6 của tôi đã chơi hết mình.
Trong cuộc hành trình với một ít thông tin ở Đông Dương tôi biết quân
Anh và quân Tàu đã sang Việt Nam từ 09-1945 để lo giải giới quân Nhật.
Tướng Leclerc chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã đến Việt Nam đầu tháng 10.
Ông đã chiếm Nam Kỳ bằng xe tăng. Quân Việt Minh đã tạm rút vào rừng.
Chúng tôi phải chống đỡ và lo bình định nơi họ đi qua.
Tháng 11, Tôi đặt chân lên Sài Gòn. Tôi chưa biết rằng tôi sẽ trải qua
những năm đẹp nhất của đời tôi trên một đất nước mà tôi không bao giờ
quên. Tôi sẽ rong ruổi trên xứ Bắc Kỳ, xứ Thái gần suốt 10 năm. Tiểu đoàn
của tôi phải đóng tại các điểm chốt ngăn chặn ở Gia Định cách Sài Gòn vài
cây số. Một ngàn người trong một ngôi làng nhỏ mà tôi khó chịu chóng mặt
với các tôn ti trật tự của họ. Cuối cùng là một nhiệm vụ rõ ràng đến với tôi:
bình định Đồng Tháp Mười, Lùng sục vào làng tìm nơi giấu vũ khí ngoài
đồng. chúng tôi ít bị thiệt hai nhưng kết quả thất vọng. chỉ huy cấp cao thì
khoe khoang. Không một làng nào chống cự chúng tôi. Thật vậy, địch tránh
khi chúng tôi đến và vừa khi chúng tôi đi thì họ quay lại. tôi cảm thấy chúng
tôi đánh giá sai vì đây không phải là cuộc chiến chống quân Đức mà là cuộc
chiến chống du kích, Tôi hiểu phương pháp của họ: tôi đã thực hiện tại
Arìèges. Ba, bốn tháng trôi qua…Trong vài tháng xe tăng chúng tôi đã giải
phòng Nam Kỳ và Trung kỳ... và chẳng được gì.
Đầu tháng 3-1946, Tướng Leclerc với vài đơn vị của 2e DB đã chiến
hết Nam Kỳ và Trung Kỳ. Ông biết mấu chốt của vấn đề nằm tại Bắc Kỳ.
Tình hình phức tạp hơn. Việt Minh chiếm Bắc Kỳ và quân Tàu giờ là đồng
minh của họ. Họ đến để chiếm Bắc Kỳ và giải giới quân Nhật. Lúc này các
chính trị gia phải làm việc với nhau. Một hiệp ước đã ký với họ và chúng tôi
[5]
có thể đi vào Bắc Kỳ. Nhóm quân 23e RIC là những nhóm đầu tiên đáp tàu
ở Hải Phòng. Chúng tôi lại lên tàu đi dọc 500km từ Nam Kỳ, Trung Kỳ và
đến Bắc Kỳ.
Ngày 5-3, đến vịnh Hải Phòng, chúng tôi xuống tàu ngày hôm sau.
Leclerc muốn làm một tiếng vang. Trấn an vài ngàn lính Pháp đã mệt mỏi
với những tháng vừa qua và làm ấn tượng với Việt Minh. Chúng tôi phải
chỉnh trang đầu tóc, áo quần, giày ủng, súng ống để cho hoàn hảo bề ngoài.
Chúng tôi đứng hết lên boong để ngắm xứ Bắc Kỳ vốn đã có cái gì đó khó
tả.
Thình lình một tràng súng máy và đại bác nổ vang. Một chiếc tàu đổ bộ
cháy trước mặt tôi. Ciais, anh trung úy quân y trẻ trúng đạn đổ máu cạnh tôi.
Bình thường mỗi khi anh bắt mạch tôi, anh nói:
- “Bigeard, hơn 10 phút để sống...hơn 5 phút để sống…”
Súng quân Tàu tiếp tục nổ. Điện đài tôi bị phá làm đôi do đạn pháo. Tôi
còn thấy cơ bắp anh run rẩy. Sau cùng khoảng một giờ sau, Leclerc ra lệnh
trả đũa. Đại bác của chiếc Triomphant nổ lên bắn trung mục tiêu. Xác quân
Tàu bay tung lên. Họ liền giơ cờ trắng. Một cuộc thương lượng dài dòng
mới. Họ xin lỗi. Quả là một sự lầm lẫn khó tin.
Cuối cùng tàu chúng tôi cập bến ngày 8-3. Dân Pháp ra đường để nồng
nhiệt đón chúng tôi. Họ dường như được trút một gánh nặng. Tôi hiểu điều
này. Nhiều người Pháp chúng tôi đã bị Việt Minh giết trong biến cố tháng 91945.
Lúc này sự yên tĩnh trở lại giống như kiểu tình hình ở Sài Gòn. Hàng
chục anh em lính đứng ra ngã tư. Tôi thấy quá đáng. Giống như sau khi nhảy
dù phía quân Đức, tôi phải làm cảnh sát điều khiển giao thông… Quả là tôi
quên sạch các mốc thời gian bấy giờ, không còn gì rõ ràng. Quân Tàu vẫn ở
đó, Chúng tôi buộc chịu sự lục soát của họ. Lúc này, Leclerc hiểu tình hình
và ra Hà Nội để thương lượng với Hồ Chí Minh. Quân đội chúng tôi ở hầu
hết Đông Dương nhưng ông hiểu rõ hơn ai khác rằng việc này hão huyền.
Ông thấy rõ rằng người ta không thể đối đầu một dân tộc muốn độc lập.
Các hiệp ước đã ký. Pháp và Bắc kỳ giờ sống chung nhau với lợi nhiều
hơn hại. Chúng tôi tuần tra chung: mười anh thủy quân lục chiến, 10 lính
Việt Minh. Chúng tôi nhìn nhau lạnh lùng. Không có gì thân thiện. Thật sự
là nghi ngờ lẫn nhau. Tệ hơn lúc còn xem nhau như kẻ thù.
Tôi biết anh Quilichini, 34 tuổi, người của Leclerc, giờ đã lên trung tá,
yêu cầu các đại úy lên vùng cao nơi cuộc chiến tiếp diễn. Các đơn vị của
Pháp từng phải rút sang Tàu với tướng Alessandri trước khi quân Nhật tấn
công vào tháng 3-1945, phải được điều động trở lại. Tôi tình nguyện đi lên
vùng cao.
Ngày 1-7, tại phi trường Cát Bi gần Hải Phòng cách Điện Biên Phủ
300km. Lần đầu tiên tôi bay trên đất Thái đồi núi chập chùng phủ rừng bát
ngát khiến con người nín thở mà nhìn. Chiếc Dakota hạ cánh. Quả thật yên
tĩnh. Một thung lũng nhỏ thơ mộng, những người dân mỉm cười thân thiện
và những người đàn bà đẹp hiếm thấy.
Chiến dịch đầu tiên tại vùng cao
Tôi theo Quilichini lên Tuần Châu. Anh nói rõ tôi nhiệm vụ và phương
tiện: “Anh nên thành lập đội biết kích với tàn quân Tàu và tung hoành hậu
phương của Việt Minh”. Tôi thích việc này vì cuối cùng mọi chuyện đã rõ
ràng. Hàng trăm người của tôi từ các đại đội khác đến gia nhập. Đó là một
sân chơi kỳ diệu: áo quần rách rưới, mệt mỏi. có dấu hiệu bệnh lỵ.. Chỉ có
một điểm tích cực là vũ khí vẫn được bảo trì hoàn hảo. Tôi thấy họ có ý xóa
đi cái mặc cảm thất bại trước quân Nhật. Giới chỉ huy có lý khi cần phải thay
máu để làm sáng tỏ những công cụ mệt mỏi. Tôi lập 4 đội biết kích gồm 25
người. Chúng tôi ra đi với chừng 3 đến 4 đơn vị. 1 đến 2 đơn vị ra đi mỗi
tuần. Chúng tôi hành quân khẩn trong đêm, để tấn công Việt Minh lúc hứng
sáng và chúngtôi rút lui theo những lộ trình bí mật vạch sẵn. Tin tình báo
hoàn hảo, tấn công chớp nhoáng trong vài phút và biết mất trong rừng.
Việt Minh giờ là chúng tôi! chúng tôi dùng cùng phương cách, kể cả
cách ăn mặc như Việt Minh... Tôi , cũng như người của tôi, đi chân không,
chỉ mặc quần cụt, lựu đạn giắt lưng, đeo súng carbine . Bề ngoài chúng tôi
không giống quân đội Pháp mà giống kiểu dân da đỏ miền Tây nhưng tinh
thần sấm sét và kết quả thu được đã tự nói lên tất cả.
Trong 4 tháng, hàng chục trận liên tiếp thành công. Xứ này đã ăn sâu
vào da thịt tôi và tôi xem như là ở nhà của mình.
Tháng 10, chúng tôi chia tay nhau trong nuối tiếc. Những người của tôi
đã học cách sống trong thiên nhiên, tách biệt những cái đê tiện của con
người. Nhất là sau vài tuần, nhưng người nọ đã tìm lại sự hãnh diện của
mình. Họ quay về khi đã hoàn thành nhiệm vụ trong chiến thắng. Về phần
tôi, không có lý do nào để ra đi. Trong khi đó ông Hồ Chí Minh đang trải
những ngày mùa hè ở Pháp để thương thuyết cho nền độc lập. Sự việc vẫn bế
tắc. Chỉ có một tạm ước đến tháng giêng 1947. Ông sẽ không cầm cự nổi.
20-11, sau nhiều biến cố, hạm đội của Pháo nã đạn vào khu phố Tàu ở
Hải Phòng. Vào tháng 12, cuộc tổng nổi dậy nổi lên. Tôi chỉ huy đại đội 3
tiều đoàn tự trị Thái, được tăng cường thêm vài lính du kích. Chúng tôi
khoảng 400 quân thiện chiến, rành rẽ địa hình và một nhúm sĩ quan Pháp để
chỉ huy. Những sĩ quan từ trường Sant-Cyr ít khi ra trận nhưng thích nghi
nhanh theo tôi.Chúng tôi mau chóng thành “đạo quân Bigeard”.
Chưa đầy 1 năm, chúng tôi đã chiếm được toàn bộ xứ Thái đen từ tay
Việt Minh. Một cuộc tấn công gần 120km. Dân chúng ủng hộ chúng tôi hoàn
toàn. Người Thái là một sắc dân riêng, với chỉ huy, già làng, tập tục riêng và
họ ghét dân Bắc Kỳ. Trong mỗi làng, chúng tôi được tiếp đón như những
giải phóng quân, được lo ăn ở.. Quá ngon lành!
31-12, tôi nhận lệnh chiếm Sơn La trên đường số 41 băng xuyên vùng
cao nguyên Bắc Kỳ. Tôi lại ra đi với quân của tôi gồm bốn đại đội biệt kích.
Người Thái đã mở cho chúng tôi những con đường, mà Việt Minh không hề
biết. Chúng tôi hành quân trong 2 ngày ròng rã và mang theo súng cối, điện
đài, đạn pháo với mức lương thực tối thiểu.
Sáng ngày 2-1-1947, chúng tôi đến Mường La. Chúng tôi quan sát ống
nhòm thấy quân Việt Minh và chúng tôi đặt cối trên các điểm cao. 100 quả
pháo kích dội xuống. 2 phân đội của tôi tràn ra và chiếm ngôi làng dễ dàng.
Chúng tôi tiếp tục hành quân nhanh qua Sơn La đến một ngôi làng nhỏ dưới
chân đỉnh núi. Tôi bố trí quân biệt kích các nơi. Một đội biệt kích đến đường
số 41 để đánh lạc hướng địch và gây những tiếng nổ kinh hoàng. Quân Việt
Minh nhào ra đường và lọt bẫy. Chúng tôi ùa ra la hét đồn dập đánh từ sau
lưng địch.
Chúng tôi đã toàn thắng. Khu đồn trú của Việt Minh bị tiêu diệt gọn.
Kết quả: 120 người chết và bị bắt làm tù binh. Thiệt hại chúng tôi gần nhưng
không có gì. Tôi chỉ ở trong làng 48 tiếng và tiếp tục hành quân trong vòng 3
tuần đến Nà Sản và đèo Con Oi.
Đầu tháng 2, chúng tôi ở miệt Yêu Châu và Bản Thìn.
Chúng tôi đã giải tỏa hàng chục km đất đai. Chúng tôi luôn dùng một
chiến thuật duy nhất: tình báo, hành quân đêm, tiếp cận địch lúc mờ sáng sau
đó đánh lạc hướng và tấn công từ trên cao. Chúng tôi sống cuộc sống như
thú rừng, leo trèo núi trên những con đường hiểm trở tường chừng như sức
người không thể vượt qua.
Nhưng số người chết và bị thương bắt đầu tăng dần khiến chúng tôi
phải phục hồi lực lượng. Tôi quyết định dưỡng quân ở Bản Thìn một tháng.
Tôi lợi dụng để điều chỉnh tình hình quản lý, huấn luyện và gia tăng sự ủng
hộ của quân du kích.
Ngày 2-4, điện đài báo tin chúng tôi hay có cuộc hành quân quan trọng
của Việt Minh cách đó vài km. Có hai giải pháp: hành quân đêm và chuẩn bị
đối đầu. Tôi chọn giải pháp thứ hai. Lực lượng phòng vệ chúng tôi đủ mạnh
và đây là một kinh nghiệm tốt để lính của tôi quen chiến đấu. Báo động 48
tiếng được phát ra.
Ngày 4-4 lúc 2 giờ sáng, họ tấn công chúng tôi, vốn đã sẵn sàng từ
trước. Tám giờ chiến đấu bằng súng máy và đạn pháo. Quân Việt Minh rút
lui và tôi quyết định tấn công. Chiến thuật cũ lại áp dụng: nhiều ngày hành
quân, ít giờ nghỉ ngơi, chỉ ăn ít cơm nắm nguội, tấn công lúc mờ sáng.
Chúng tôi dùng cách cũ chiếm được Bản Na nga, Tú Nang,và Mường Lùm.
Ngày 3-5, Chúng tôi kết bè vượt sông Đà đối diện Vân Yên mà chúng
tôi đánh chiếm ngày 8-5. Từ cả tháng nay tôi không hề báo cáo cho cấp trên.
Tôi chỉ báo cáo tin ngắn gọn: “Đã lấy Vân Yên”.
Những tuần này khá thành công. Chúng tôi không hề gặp kháng cự.
Chúng tôi dẻo dai, nhanh nhẹn trên đôi chân thép và sức lực vượt bậc. Việc
chiếm Vân Yên và việc đơn vị khác từ Mộc Châu từ phía nam đến giải tỏa,
xứ Thái đen đã gần như được giải phóng. Tôi quyết định lập bộ chỉ huy
trong vài tháng. Phân đội tôi đóng từ thung lũng Suối Tóc đến Khuê Lang.
Chúng tôi liên lạc với nhau bằng điện đài tạo một hê thống tình báo chặt chẽ,
tiếp xúc dân xứ Thái thường xuyên. Tôi lợi dụng vài tháng này để bình định
xứ này và tảo thanh Việt Minh.
Một giai thoại là: 3 tháng một lần người chúng tôi được gửi đi lấy thư
và đạn dược ở Mộc Châu. Đến phiên trung úy Guilleminot dẫn đầu khoảng
40 lính du kích. Ngay hôm sau, tôi thấy họ quay về không có Guilleminot.
Họ bảo rằng bị Việt Minh phục kích gần sông Đà.. Vài giờ sau, tôi thấy anh
trung úy quay về mặc bộ pyjama trắng trong chiếc dù. Quân Việt Minh đã
bắt anh trong khi ăn mặc như vậy, nhưng trời tối, họ tưởng anh là cô gái trẻ
xứ Thái và họ thả anh đi. Đúng là một vận may. Tôi buộc phải cho anh tin
rằng tôi phạt giam anh 8 củ vì tội đánh giặc mặc đồ ngủ. Nhưng dù sao cũng
may là anh thoát chết.
Mùa thu 1947: Những ngày hành quân của tôi kết thúc và tôi phải kết
thúc cho đẹp. Tôi được báo một bộ chỉ huy Việt Minh và một tiều đoàn cách
40km trong vùng phiến quân. Lính Thái bảo có thể dẫn đường chúng tôi mà
không bị phát hiện. Tôi mang theo 100 quân và hành quân trong 3 ngày. Khi
còn cách bộ chỉ huy địch 2km, tôi cho quân nghỉ và họp ngắn trước khi tấn
công. Một đội xung phong, đội khác phục kích, tôi và quân còn lại tấn công
thẳng vào quân Việt Minh.
Chúng tôi tràn quân tấn công dứt khoát với hỏa lực cối 60 ly yểm trợ.
15 phút sau chúng tôi rút quân. Để lại cho địch 20 xác chết. Bên tôi bắt được
06 tù binh. Tất cả chúng tôi không ai bị thương vong, riêng tôi bị mảnh lựu
đạn vào cổ. Chúng tôi hành quân gấp quay về. đến Vân Yên, tôi nghe anh
em nói: “Ông bạn già còn cầm cự nổi” Tôi không dám mơ đến những lời
vĩnh biệt cảm động như vậy.
Ngày 20-9, Gaby, vợ tôi và con gái Marie-France 2 tuổi đã đón tôi tại
sân bay Orly. Lần đầu tiên tôi gặp con gái mình. Trong bộ chỉ huy của tôi tại
Vân Yên, tôi đã treo hình bé gái của tôi quấn khăn tã trắng. Khi xa người
thân, người ta buộc phải sống với kỷ niệm với vài bức ảnh hay thư từ hiếm
hoi…
1948-1950: Lãnh chúa chiến tranh xứ Thái
Tháng 10-1947 đến tháng 2-1948. Bốn tháng về phép. Tôi về Toul với
vợ Gaby và đứa con gái Marie-France. Tôi lại phải khó khăn để làm quen lại
cuộc sống tại Pháp. Một đất nước chật chội, thức ăn quá bổ dưỡng khiến tôi
bệnh, chân tôi không còn quen mang giày. Tôi đã tốn tiền cho hai năm tôi
làm việc quá sức.
Tôi không theo dõi những gì xảy ra ở Đông Dương. Báo chí hầu như
không nói gì. Đó là cuộc chiến không được biết đến. Tôi đau lòng vì tôi nghĩ
đến sự anh hùng của các anh em chiến hữu, của những trung úy đã hy sinh.
Việc đó chì làm tồi tệ thêm… Tướng Valuy thay thế Leclerc, tiếp tục những
chiến dịch quy mô vô ích. Tôi rời Bắc kỳ lúc xảy ra cuộc tấn công mùa thu.
Chắc chắn Việt Minh đã rút vào bí mật. Người Pháp tiếp tục theo đuổi cuộc
chiến kinh điển trong khi cần phải có đạo quân chống du kích, tức là cần
phải có tin tình báo, tính linh hoạt, cơ động, rành rẽ địa hình như đối
phương. Chính trị là phải thủ đoạn. Chắc chắn người Pháp không hiểu gì..
Giải pháp Bảo Đại bù nhìn lại không được ai công nhận. Đó không phải là
thực hiện việc trao trả quyền giả tạo để trấn an Việt Minh. Người ta phải tìm
giải pháp để đánh hay phải rút về nước.
Dù vậy tôi quyết định tình nguyện sang Đông Dương lần thứ hai với
máu phiêu lưu và nhất một ít…bổn phận của mình. Chết cho tổ quốc là số
phận vinh quang nhất… Tất cả những mỹ từ mà những người thầy đã dạy
cho tôi mà tôi còn tin tưởng… Và cũng là ước muốn để được chiến đấu bên
cạnh các anh em. Nhất là trở lại vùng cao nguyên mà tôi từng lẩn trốn con
virus của …bệnh “da vàng”.
Từ tháng 2 đến tháng 10, chín tháng ở Saint-Brieuse để huấn luyện
một đại đội nhày dù. Lúc này vợ con ở bên cạnh tôi. Chúng tôi ở trong một
ngôi nhà nhỏ gần trại huấn luyện và chỉ chiều chúng tôi mới có thể gặp nhau.
Việc huấn luyện căng thẳng và không lúc nào nghỉ ngơi. Việc này không làm
tôi không vui vì tất cả phải làm lại từ đầu, tận dụng kinh nghiệm của tôi dạy
cho những tân binh, nêu lý do tuyển dụng họ và tạo dựng tinh thần…Sau đó
là huấn luyện : đi bộ 10-15 km hàng ngày, hành quân dồn dập, bắn theo bản
năng, sử dụng la bàn đột kích ban đêm, và tất nhiên là có nhảy dù. Cường độ
tập luyện cao duy trì và cuộc sàng lọc gắt gao với 2/3 bị loại. Đó là việc cần
thiết vì phía Việt Minh cũng không ngớt củng cố trang bị… Ở Đông Dương,
không ai được phép sai lầm.
Sau vài tháng, chúng tôi đến trai huấn luyện ở Meucon để tập nhảy dù
nhiều tuần. Điều kiện khí tượng không quan trọng và ngưới lính dù luôn phải
sẵn sàng. Chúng tôi thường bị gió thổi đi, tiếp đất trên đường băng cứng,
thỉnh thoảng còn bị kẹt vào các nhà kho lân cận. Những người giỏi nhất cố
ứng phó để thoát ra. Những người khác phải nhập viện. Thế còn hơn là bị
chết tại trận. Khi chúng tôi ra đi vào tháng 10, tôi có thêm công cụ hoàn hảo
sẵn sàng chiến đấu: những người của tôi. Tất cả đều có bằng nhảy dù với
những bước đi kiêu hãnh.
[6]
26-10-1948, tiều đoàn 3e BCCP từ Marseille lên tàu Pasteur. Chiếc
tàu đã không ngừng đi lại giữa Pháp và Đông Dương trong suốt cuộc chiến
để chuyển tân binh vốn đang háo hức và vừa tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra cho
mình. Gaby và con gái Marie-France đã ra bến tiễn tôi với những từ giã cảm
động như mọi người khác nhưng không bịn rịn. Tôi sẽ luôn phục vụ quân đội
nơi nào có giao tranh. Không khí sôi sục trên tàu. Người của tôi hơi căng
[7]
thẳng. Với chúng tôi, Các cô PFAT là những người tuyệt vời tham gia
những công việc đáng ngưỡng mộ ở Đông Dương.
Các chặng dừng chúng tôi đi qua: Aden, Suez, Colombo, Sumatra.
Singapour...không khác lần trước. Lần này tôi đã thay đổi so với chuyến đi
lần trước. Tôi trờ nên ngoan ngoãn hơn trong hầm và nghĩ đến vợ con và
điều mà gia đình đang mong chờ ở mình.
Tháng 11, lần thứ hai tôi cập bến Sài Gòn. Không có gì thay đổi. Tôi
luôn không thích cái thành phố vốn tách biệt với chiến tranh này với mấy sĩ
quan cao cấp huênh hoang chưa từng đặt chân vô rừng rậm. Sau vài tuần
không kết quả, tiểu đoàn chúng tôi chiếm một ngã tư rất gần thành phố. Tôi
trở nên sôi sục vì đã bỏ 12.000km sang đây để làm nhân viên cảnh sát…
Cũng may mắn cho tôi: đại đội tôi được điều ra Bắc Kỳ. Sự thật tôi đã là
chuyên gia của xứ này. Và cũng không hứng khởi gì hơn. Tôi tham gia
những chiến dịch lớn mà tôi không đồng ý và tôi cũng không có sáng kiến
gì. Đại đội tôi hoạt động trong vùng châu thổ bằng cách bổ sung quân cho
các đơn vị khác. Tôi thấy tiếc cho các phương pháp điều hành kinh điển của
bộ tham mưu đã không hề thay đổi để hòng bắt một kẻ thù không thể nào bắt
được. Khi chúng tôi rầm rộ tiến quân bằng xe tăng và máy bay thì Việt Minh
đã có thừa thì giờ để rút lui. Việc đó cứ như dùng búa tạ đập ruồi! Người ta
vẫn luôn không chịu biết rõ cuộc chiến tranh chống du kích ra sao. Ở Hải
Phòng, cuộc sống êm ả không làm tôi thích thú pha chút nhớ nhà. Quán Café
du Commerce luôn đông đảo gái Việt và Tàu quyến rũ đứng chờ khách…
Trong không khí luôn đơn điệu. họ xem như cuộc chiến quá xa xôi và Việt
Minh cứ thế mà lấn chiếm gặm nhấm dần. Họ đã chiếm lại xứ Thái. Người
Pháp chỉ còn giữ những thành phố lớn. đường sá và vài đồn bót giữa rừng.
Tôi nhớ lại 18 tháng tôi tung hoành xứ Thái. Chúng tôi chơi ngang cơ với
quân Việt Minh với những chiến thắng được chứng minh qua số vũ khí thu
được và số địch bị diệt.
Tôi tưởng tượng những gì tôi sẽ từng làm với đại đội tôi một cách trơn
tru. Giờ thì những gì tôi dạy họ chẳng xài gì được trong lúc này: những cuộc
hành quân đêm, bắn theo bản năng, chuẩn bị phục kích.. Quả làm một thất
vọng lớn. Ngày mai sẽ biết.
Các biến cố dồn dập xảy ra. Đồn Yên Châu vùng cao vừa bị tấn công.
Một nhúm quân người Pháp và du kích Thái chống cự chật vật với nhiều đại
đội Việt Minh. Biết rõ tôi nắm địa hình, bộ chỉ huy đã thả dù đơn vị tôi
xuống. Cuối cùng một chiến dịch thật sự đã chứng minh khả năng lính của
tôi. Tôi tin tưởng tuyệt đối đội quân hùng mạnh của tôi luôn sẵn sảng chiến
đấu khi cần thiết.
Ngày 18-1-1949, Tại sân bay Cát Bi gần Hải Phòng, nhiệm vụ nhảy dù
đầu tiên được giao. Ai nấy cũng khoe khoang để thư giãn và kiểm tra lần nữa
trang bị của mình. Chúng tôi lên máy bay. Máy bay cất cánh và Hải Phòng
biến xa dần lúc bình binh. Tiếng chong chóng máy bay ồn ào khiến chúng tôi
không thể trò chuyện nhau. Tôi ngồi sát cửa đi đang mở của máy bay. Xứ
Thái đang hiện ra dưới chân mình và tôi thấy hạnh phúc nhảy dù lần đầu tiên
trên xứ này. Con đường tỉnh lộ 41 như dãy lụa bên dưới giờ đang bị Việt
Minh kiểm soát.
Lúc 10 giờ sau chúng tôi đã cách Hải Phòng 200km. Phi công thông
báo chúng tôi đến Yên Châu: Cái đồn bót bằng tre vẫn còn đó, trên đỉnh núi
mà tôi đã chiến đấu trong những ngày đầu tiên. Tất cả các anh em đứng dậy,
móc đai sẵn sàng nhảy. Go! Các anh em nhảy theo tôi. Quả là yên tĩnh. Một
chút hạnh phúc trong trẻo khi thả dù lơ lửng. Trên đầu tôi, các anh em nối
nhau theo sau nhanh chóng. Những chiếc dù trắng bung ra trên trời xanh.
Chúng tôi thấy quân Việt Minh bỏ trốn. Tôi có cảm giác làm chủ cả thế giới
khi đến để cứu viện.
Một cú tiếp đất mạnh làm tôi quay về thực tế. Chúng tôi gom quân lại
và đi về hướng đồn. Lính trong đồn vui mừng khi thấy chúng tôi đến tăng
viện. Anh chỉ huy người Corse tên Paccioni nồng nhiệt đón chúng tôi. Anh
bị điếc tai và tôi phải nói lớn tiếng nói với anh. Paccioni kể lại chuyện bị tấn
công. Chúng tôi chăm sóc thương binh và tuần tra xung quanh để giải tỏa
đồn.
Đêm đến, chúng tôi phải đi bộ tải thương binh đến Nà Sản cách đó
40km với 6 tiếng đi bộ. Ở Nà Sản, xe tải đã chờ và chở chúng tôi đến bệnh
viện Sơn La. Chúng tôi quay ngược về đồn sau vài ngày nghỉ dưỡng. Anh
chỉ huy Paccioni hãnh diện về lính nhảy dù và cầm cự tập kích. Anh giải
thích rằng khu đất hoàn toàn vững chắc và quân Việt Minh đã trốn khi chúng
tôi đến. Tôi chỉ tin phân nửa. Tôi đề phòng gởi đi 6 người làm trinh sát.
Công viện tiếp tục khó nhọc trong không khí nóng nực. Thình lình một loạt
đạn bắn ra và nhóm trinh sát bị tiêu diệt với nhiều người bị thương. Tôi xả
hết băng đạn và la: “ Bắn hết ga! Bắn phủ đầu về hướng Việt Minh !”
Nhóm chúng tôi bình tĩnh ứng phó. Mỗi người đều ở tại vị trí phục kích
tốt sẵn sàng đón đánh quân Việt Minh. Họ rút lui vì biết rõ không thể tiến
lên. Chúng tôi gom xác chết, chăm sóc thương binh và rút cẩn thận. Tôi tự
giận mình vì vì sao mình đã lọt vào cái bẫy quá thô thiển. Tôi biết phải làm
lại từ đầu. Đó là một bài học do lỗi của tôi làm nhiều người chết. Hôm sau
tôi một mình đi trên con đường bị phục kích để chứng minh cho người của
tôi biết rằng tất cả đều tốt.
Tôi ở đây hơn 8 tháng đến tận tháng 9 trong vùng Chien Dong với
nhiệm vụ tảo thanh khu vực và triệt tiêu quân Việt Minh từ sông Hồng lên.
Người chỉ huy cũ đã chuyển đi và tôi phải quản hết các đồn bót hiện có với
hơn 1.000 lính Thái. Tôi vẩn luôn là đại úy gắn bó với đại đội và phải báo
cáo lên chỉ huy. Nhưng theo thói quen, người ta tin tưởng giao mọi trách
nhiệm cho tôi vốn cao hơn cấp bậc hiện tại. Tôi nhanh chóng lập bộ chỉ huy
trên đỉnh núi Chien Dong. Tôi thiết lập hệ thống tình báo thật sự. Quan đầu
tỉnh gửi đến tôi một người nhà của ông thên Théo Văn Thục để làm một
công việc ngoại lệ. Dân chúng nâng đỡ và thông báo tin tức cho chúng tôi.
Mỗi trung úy của tôi nhận đảm trách một vùng hoạt động và chúng tôi
thường xuyên hành quân tập kích. Nhóm đã hoạt động 3.000 chuyến. Chúng
tôi không giống như những lính giữ đồn khác! Vài nhóm quân đóng không
quá xa căn cứ để phòng vệ… Chúng tôi luôn làm nhiệm vụ săn tìm Việt
Minh tại những nơi mà họ xem như là an toàn với họ.
Một chiều nọ tôi quay về và nhận bức điện: “ Đến Sài Gòn. Gaby”. Vợ
tôi, cũng cứng đầu giống tôi với cái máu phiêu lưu. Tiếc rằng tôi không thể
đi đón vợ như hầu hết người khác. Một chỉ huy đề nghị cho người đi theo
tôi. Tôi điện cho một người bạn nhờ đón vợ tôi. Cuối cùng, được giấy thông
hành và vợ tôi đến ở Sơn La tại nhà một nhân viên hành chính trong vùng
quân sự, nơi dân thường không được đến! Xem như cho tôi yên tâm rằng vợ
ở bên cạnh mình.
6 tháng sau, Tôi phải về Hà Nội với 3e BCCP gắn bó của mình. Chỉ
huy cấp cao khen ngợi công trạng tôi nhưng tôi không hoàn toàn thỏa mãn.
Tôi đã mất 30 người. Đó là quá đáng do tôi đã nóng lòng đánh nhanh. Tôi
hứa lần sau sẽ thận trọng hơn. Khi đọc kết quả báo cáo, ông tướng chỉ huy
Alessandri quyết định giữ tôi trên vùng cao. Tôi lo thành lập tiểu đoàn lính
Thái BT3 gồm lính tình nguyện. Số người tình nguyện đông khiến tôi phải từ
chối bớt. Người Thái vốn thù dân Bắc Kỳ xưa nay. Có thêm vài sĩ quan và
hạ sĩ quan Pháp từ châu thổ sông Hồng gởi lên cho tôi.
Ngày 1-10, tiểu đoàn 3e BT đượcthành lập. Tôi giờ có 5 đại đội c...
 





