HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

TÌM KIẾM

TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quyện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Ảnh ngẫu nhiên

Z7412230485754_887adfdc55d0a37b795122945e349c9e.jpg Z7412230443757_00b03a6f1000095bc1506c244f7b58af.jpg Z7412230342232_89a08a0b8e7ce021b73cc3253faa9f0e.jpg Z7412230229487_1bd34adad72849678d8d56e6645c3f83.jpg Z7412229551839_f2a404a90a77cac0a6feb26991d91db3.jpg Z7412229543357_808e03c65d6e4a0704347616eb04ce3f.jpg Z7412229531695_dea4f54b42a39369f547cb96e1081591.jpg Z7412229503757_4face64ef59b5fe2907d270c3975bd2b.jpg Z7412229498823_9afad5b3ed37365efab3d1ed733d190a.jpg Z7412229482839_c4111d26865b0042b9ac6ffdf7f5916a.jpg Z7412229477280_edc6e91c06ee23ebacff71a1c860aa62.jpg Z7412229477279_b3fb39df8ffd8f66171c822aab7eb1d5.jpg Z7412229462947_f50203af26ad0b83dde80d9ad83037ab.jpg Z7412229462222_c96561b7bb0ee733e165ea659de91123.jpg Z7412229445319_d50c8ab0ef1c2e91122239043a604ac8.jpg Z7412229415858_f3143c6995a0f7179095dbe19987cc21.jpg F4ebdd19bc5a0e04574b21.jpg C08cea7e8b3d3963602c20.jpg 289fb048d10b63553a1a24.jpg

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU THƯ VIỆN THÂN THIỆN

    Cuộc chiến đông dương

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 09h:01' 16-03-2024
    Dung lượng: 870.0 KB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    MỤC LỤC
    PHẦN 1: CUỘC CHIẾN.. 4
    Ngày 7-5-1954, đúng 17 giờ 30, Điện Biên Phủ thất thủ. Đã đúng
    nửa thế kỷ. 5
    1945-1947: “Đội quân Bigeard”. 6
    Theo lời kêu gọi của Leclerc. 6
    Chiến dịch đầu tiên tại vùng cao. 9
    1948-1950: Lãnh chúa chiến tranh xứ Thái 12
    Cao Bằng, sự tệ hại! 17
    1952-1954: Từ Tú Lệ đến Điện Biên Phủ. 18
    Một tiểu đoàn lính mới và lính già. 19
    Mất Nghĩa Lộ, lại rắc rối 21
    Quân Việt Minh theo sát gót và chúng tôi phải rút quân. 23
    Một nhiệm vụ nhảy dù đầu tiên ngoạn mục. 25
    1er RCP, tiều đoàn tinh hoa khác. 27
    Lạng Sơn, hang kho tàng. 29
    Những đợt sóng đầu tiên tại Điện Biên Phủ. 31
    Tiểu đoàn 6e BPC lập thêm chiến công. 33
    Lại bắt đầu phiêu lưu. 35
    Tấn công ! Thà phản ứng hơn là chịu đựng. 36
    Cuối tháng 2, Cogny triệu tập tôi 36
    Người của tôi: tin tưởng và gắn bó nhau. 38
    Tăng viện đến nhưng quá trễ. Hà Nội không hiểu gì cả. 44
    Kiệt sức, chán ngán, tiếp tục chiến đấu. 47
    Bị cầm tù, bốn tháng kinh hoàng tột độ. 49
    PHẦN 2: THĂM LẠI ĐÔNG DƯƠNG.. 52
    PHẦN 3: PHỤ LỤC.. 58




    Cuộc chiến Đông Dương của tôi – Marcel Bigeard

    Tôi chân thành cảm ơn Tướng Trần Văn Quang và đại tá Phạm Xuân
    Phượng đã nồng nhiệt tiếp đón tôi ở VN. Tôi gởi lời cảm ơn đến các ông:
    Phạm Văn Nam, René Lepore, Jean-Claue Criton, daniel Maillot, Eric
    Bouver, Fréderic Helbert đã giúp đỡ thực hiện quyển sách này.

    Cùng với lời cảm ơn đến Cơ quan SIRPA/ECPA đã nghiên cứ và lưu
    trữ những hình ảnh chiến tranh Đông Dương và Cơ quan ảnh báo chí
    GLMR.

    Tôi luôn nói rằng tôi chỉ trở lại Điện Biên Phủ với nắm tro xác được thả
    dù để gặp lại những anh em mà tôi không bao giờ quên đã chôn rải rác trong
    thung lũng xa xôi này. Dù sao tôi đã trở lại trước khi nhảy dù lần cuối cùng
    để nói lên, và còn nói về cuộc chiến Đông Dương và Điện Biên Phủ không
    bao giờ quên. Tôi đã quay lại khi còn sống để tưởng nhớ tất cả các anh em
    binh sĩ.

    Tựa quyển sách có vẻ kiêu kỳ nhưng chỉ là một bằng chứng những gì
    tôi đã sống. Qua những hình ảnh cảm động, anh hùng và hy sinh.

    Ngày nay Việt Nam và Pháp là những người bạn mới, Người Việt Nam
    đã nói: “ Người Pháp các anh có trái tim nhưng không có tiền, Người Mỹ có
    tiền nhưng không có trái tim, người Nga không có cả hai”.

    Sau khi tuyên bố như vậy, làm sao người ta có thể thoát khỏi căn bệnh
    [1]
    “da vàng ” ? (Bigeard)


    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    [2]
    PHẦN 1: CUỘC CHIẾN


    Ngày 7-5-1954, đúng 17 giờ 30, Điện Biên Phủ thất thủ.
    Đã đúng nửa thế kỷ

    Dù đã qua nhiều năm, tôi còn thấy buồn cho những ai đã cho quá nhiều
    trong cuộc “chiến tranh bẩn thỉu”. Đúng vậy, đã đau khổ về kỷ niệm về
    những ngày cuối trong trận mưa pháo, súng đạn và địa ngục. Rừng đã bị tàn
    phá như những con người đã chiến đấu và chết từng lúc. Tất cả các chiến sĩ
    [3]
    bị bỏ rơi do thế lực chính trị không hiểu gì khi dàn organ Staline dội trên
    đầu chúng tôi.

    Không còn hàm trú, không còn trạm phẫu thuật nào còn nguyên để
    chăm sóc thương binh cố đứng dậy chiến đấu dù biết rằng phải kết thúc.
    Thắng hay thua trong danh dự là hy vọng duy nhất của chúng tôi. Cố cầm cự
    một ngày là hy vọng một phép lạ. Thế giới tự do không thể bỏ rơi chúng tôi !

    Lúc 17h30, cuộc chiến kết thúc. Chúng tôi không biết sau trận chiến
    chúng tôi phải đối mặt cuộc chiến khác ghê gớm hơn: chống lại cái chết từ từ
    và cái chết tinh thần. Những người sống sót bắt đầu những bước đi cuối cùng
    về các trại tù má ít ai có thể sống sót trở về. Không thể tin được! Trong tình
    trạng hỗn độn ấy, chỉ còn chỉ còn vết tích những giá trị mất dần theo thời
    gian: tình anh em keo sơn do đồng cam cộng khỗ cách biệt hẵn với sự đê tiện
    của con người, tình thương của nước Mẹ, lòng anh hùng và ý nghĩa của sự
    hy sinh.

    Người ta tưởng rằng lòng hận thù không nguôi ngoai, dù đã 10 năm từ
    ngày tôi quay về nơi kỷ niệm kinh hoàng để chào các anh em xấu số. Điện
    Biên Phủ 1994. Nơi đó tôi đã tìm thấy sự tôn trọng và tôi đã có những người
    bạn mới duy trì đến năm 2004. Một tổ truyền hình Việt Nam vừa đến Toul
    để quay phim tôi như là một trong những di tích của Điện Biên Phủ.

    Những anh bạn trẻ đáng kính, nồng nhiệt đã chào một người đại diện
    những chiến sĩ ngày hôm qua. Có ít công bằng khi mà con trai thống chế
    Leclerc đã cùng gia đình đến Toul với người cháu của Leclerc, người đứng
    nhận Bắc Đẩu Bội tinh từ tay Bigeard. Thật kính trọng cho tôi ! Giữa các
    bức tường, các con cháu của Leclerc, một chỉ huy trẻ tài ba, được những
    người có vinh dự phục vụ yêu quý; đã có mối liên hệ bền vững với tôi mà tôi
    còn giữ đến hơi thở cuối cùng. Điện Biên Phủ ! Tôi đã và sẽ chắn chắn quay
    lại để tìm những anh em mất tích trên mảnh đất thấm máu họ, Mảnh đất mà
    tôi rất yêu quý- Marcel Bigeard.




    1945-1947: “Đội quân Bigeard”

    09-1945, Nhật đầu hàng và rời Đông Dương. HCM lãnh đạo du kích
    cộng sản lợi dụng tình hình tuyên bố độc lập. Nước Pháp gởi tướng Leclerc
    chỉ huy quân viễn chinh đến tái lập quyền hành. Đại úy Bigeard đã tham gia.
    Ông tình nguyện lên vùng cao Bắc kỳ để tiếp tục chiến đấu chống Việt
    Minh.

    1945, lúc đó tôi 19 tuổi và đã đi một đoạn đường dài. Tham gia nhóm
    lính Franc năm 1940, nhóm biệt kích đương thời, tù binh của Đức quốc xã
    18 tháng và tôi đã vượt ngục. Thực tập nhảy dù biết kích bên Anh, được thả
    dù bên phòng tuyến đức vào tháng 8-1944, Tôi giải phóng Ariège với một
    toán quân nhảy dù và du kích quân: lúc đó tôi trong trung đoàn bộ binh thuộc
    địa số 23, bộ binh của hải quân.


    Theo lời kêu gọi của Leclerc

    Tháng 10, Tôi cùng đại đội lên tàu từ Marseille đi Đông Dương. Quân
    Nhật đã chiếm hòn ngọc của chúng tôi nhiều năm nay. Khi họ rút đi, ông Hồ
    Chí Minh tuyên bố VN độc lập. Việt minh đã nổi lên khắp nơi. Và phải thiết
    lập lại sự hiện diện của Pháp. Tôi biết đó là một chuyện khó khăn. Tôi ra đi
    vì nhiệm vụ thế thôi. Tôi hãnh diện phục vụ dưới quyền tướng Leclerc.
    Tướng Leclerc là một lãnh đạo thật sự. Một ý chí mạnh mẽ, một sĩ quan gần
    gũi với thuộc cấp, nhạy bén với tinh thần quân đội. Và một quá trình oanh
    liệt của ông ! Chiến dịch Pháp, tù binh Đức, vượt ngục, đi theo de Gaulle ở
    [4]
    Londres, Anh hùng của 2èmeDB , ờ Tchad, Bắc Phi, Giải phóng Paris…

    Chúng tôi chen chúc trên chiếc tàu chở lính Stamforg-Victory cũ kỹ.
    Trời nóng kinh khủng. Thỉnh thoảng phải leo lên để thở. Một không khí ẩm.
    Cuộc hành trình chậm chạp. Để giết thì giờ, chúng tôi đã đánh bài phé với
    các trung úy của chúng tôi. Sau ba tuần hành trình, nhiều người trong số họ
    đã gom được nhiều tháng lương. Giác quan thứ 6 của tôi đã chơi hết mình.

    Trong cuộc hành trình với một ít thông tin ở Đông Dương tôi biết quân
    Anh và quân Tàu đã sang Việt Nam từ 09-1945 để lo giải giới quân Nhật.
    Tướng Leclerc chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã đến Việt Nam đầu tháng 10.
    Ông đã chiếm Nam Kỳ bằng xe tăng. Quân Việt Minh đã tạm rút vào rừng.
    Chúng tôi phải chống đỡ và lo bình định nơi họ đi qua.

    Tháng 11, Tôi đặt chân lên Sài Gòn. Tôi chưa biết rằng tôi sẽ trải qua
    những năm đẹp nhất của đời tôi trên một đất nước mà tôi không bao giờ
    quên. Tôi sẽ rong ruổi trên xứ Bắc Kỳ, xứ Thái gần suốt 10 năm. Tiểu đoàn
    của tôi phải đóng tại các điểm chốt ngăn chặn ở Gia Định cách Sài Gòn vài
    cây số. Một ngàn người trong một ngôi làng nhỏ mà tôi khó chịu chóng mặt
    với các tôn ti trật tự của họ. Cuối cùng là một nhiệm vụ rõ ràng đến với tôi:
    bình định Đồng Tháp Mười, Lùng sục vào làng tìm nơi giấu vũ khí ngoài
    đồng. chúng tôi ít bị thiệt hai nhưng kết quả thất vọng. chỉ huy cấp cao thì
    khoe khoang. Không một làng nào chống cự chúng tôi. Thật vậy, địch tránh
    khi chúng tôi đến và vừa khi chúng tôi đi thì họ quay lại. tôi cảm thấy chúng
    tôi đánh giá sai vì đây không phải là cuộc chiến chống quân Đức mà là cuộc
    chiến chống du kích, Tôi hiểu phương pháp của họ: tôi đã thực hiện tại
    Arìèges. Ba, bốn tháng trôi qua…Trong vài tháng xe tăng chúng tôi đã giải
    phòng Nam Kỳ và Trung kỳ... và chẳng được gì.

    Đầu tháng 3-1946, Tướng Leclerc với vài đơn vị của 2e DB đã chiến
    hết Nam Kỳ và Trung Kỳ. Ông biết mấu chốt của vấn đề nằm tại Bắc Kỳ.

    Tình hình phức tạp hơn. Việt Minh chiếm Bắc Kỳ và quân Tàu giờ là đồng
    minh của họ. Họ đến để chiếm Bắc Kỳ và giải giới quân Nhật. Lúc này các
    chính trị gia phải làm việc với nhau. Một hiệp ước đã ký với họ và chúng tôi
    [5]
    có thể đi vào Bắc Kỳ. Nhóm quân 23e RIC là những nhóm đầu tiên đáp tàu
    ở Hải Phòng. Chúng tôi lại lên tàu đi dọc 500km từ Nam Kỳ, Trung Kỳ và
    đến Bắc Kỳ.

    Ngày 5-3, đến vịnh Hải Phòng, chúng tôi xuống tàu ngày hôm sau.
    Leclerc muốn làm một tiếng vang. Trấn an vài ngàn lính Pháp đã mệt mỏi
    với những tháng vừa qua và làm ấn tượng với Việt Minh. Chúng tôi phải
    chỉnh trang đầu tóc, áo quần, giày ủng, súng ống để cho hoàn hảo bề ngoài.
    Chúng tôi đứng hết lên boong để ngắm xứ Bắc Kỳ vốn đã có cái gì đó khó
    tả.

    Thình lình một tràng súng máy và đại bác nổ vang. Một chiếc tàu đổ bộ
    cháy trước mặt tôi. Ciais, anh trung úy quân y trẻ trúng đạn đổ máu cạnh tôi.
    Bình thường mỗi khi anh bắt mạch tôi, anh nói:

    - “Bigeard, hơn 10 phút để sống...hơn 5 phút để sống…”

    Súng quân Tàu tiếp tục nổ. Điện đài tôi bị phá làm đôi do đạn pháo. Tôi
    còn thấy cơ bắp anh run rẩy. Sau cùng khoảng một giờ sau, Leclerc ra lệnh
    trả đũa. Đại bác của chiếc Triomphant nổ lên bắn trung mục tiêu. Xác quân
    Tàu bay tung lên. Họ liền giơ cờ trắng. Một cuộc thương lượng dài dòng
    mới. Họ xin lỗi. Quả là một sự lầm lẫn khó tin.

    Cuối cùng tàu chúng tôi cập bến ngày 8-3. Dân Pháp ra đường để nồng
    nhiệt đón chúng tôi. Họ dường như được trút một gánh nặng. Tôi hiểu điều
    này. Nhiều người Pháp chúng tôi đã bị Việt Minh giết trong biến cố tháng 91945.

    Lúc này sự yên tĩnh trở lại giống như kiểu tình hình ở Sài Gòn. Hàng
    chục anh em lính đứng ra ngã tư. Tôi thấy quá đáng. Giống như sau khi nhảy
    dù phía quân Đức, tôi phải làm cảnh sát điều khiển giao thông… Quả là tôi
    quên sạch các mốc thời gian bấy giờ, không còn gì rõ ràng. Quân Tàu vẫn ở
    đó, Chúng tôi buộc chịu sự lục soát của họ. Lúc này, Leclerc hiểu tình hình
    và ra Hà Nội để thương lượng với Hồ Chí Minh. Quân đội chúng tôi ở hầu
    hết Đông Dương nhưng ông hiểu rõ hơn ai khác rằng việc này hão huyền.
    Ông thấy rõ rằng người ta không thể đối đầu một dân tộc muốn độc lập.

    Các hiệp ước đã ký. Pháp và Bắc kỳ giờ sống chung nhau với lợi nhiều

    hơn hại. Chúng tôi tuần tra chung: mười anh thủy quân lục chiến, 10 lính
    Việt Minh. Chúng tôi nhìn nhau lạnh lùng. Không có gì thân thiện. Thật sự
    là nghi ngờ lẫn nhau. Tệ hơn lúc còn xem nhau như kẻ thù.

    Tôi biết anh Quilichini, 34 tuổi, người của Leclerc, giờ đã lên trung tá,
    yêu cầu các đại úy lên vùng cao nơi cuộc chiến tiếp diễn. Các đơn vị của
    Pháp từng phải rút sang Tàu với tướng Alessandri trước khi quân Nhật tấn
    công vào tháng 3-1945, phải được điều động trở lại. Tôi tình nguyện đi lên
    vùng cao.

    Ngày 1-7, tại phi trường Cát Bi gần Hải Phòng cách Điện Biên Phủ
    300km. Lần đầu tiên tôi bay trên đất Thái đồi núi chập chùng phủ rừng bát
    ngát khiến con người nín thở mà nhìn. Chiếc Dakota hạ cánh. Quả thật yên
    tĩnh. Một thung lũng nhỏ thơ mộng, những người dân mỉm cười thân thiện
    và những người đàn bà đẹp hiếm thấy.



    Chiến dịch đầu tiên tại vùng cao

    Tôi theo Quilichini lên Tuần Châu. Anh nói rõ tôi nhiệm vụ và phương
    tiện: “Anh nên thành lập đội biết kích với tàn quân Tàu và tung hoành hậu
    phương của Việt Minh”. Tôi thích việc này vì cuối cùng mọi chuyện đã rõ
    ràng. Hàng trăm người của tôi từ các đại đội khác đến gia nhập. Đó là một
    sân chơi kỳ diệu: áo quần rách rưới, mệt mỏi. có dấu hiệu bệnh lỵ.. Chỉ có
    một điểm tích cực là vũ khí vẫn được bảo trì hoàn hảo. Tôi thấy họ có ý xóa
    đi cái mặc cảm thất bại trước quân Nhật. Giới chỉ huy có lý khi cần phải thay
    máu để làm sáng tỏ những công cụ mệt mỏi. Tôi lập 4 đội biết kích gồm 25
    người. Chúng tôi ra đi với chừng 3 đến 4 đơn vị. 1 đến 2 đơn vị ra đi mỗi
    tuần. Chúng tôi hành quân khẩn trong đêm, để tấn công Việt Minh lúc hứng
    sáng và chúngtôi rút lui theo những lộ trình bí mật vạch sẵn. Tin tình báo
    hoàn hảo, tấn công chớp nhoáng trong vài phút và biết mất trong rừng.

    Việt Minh giờ là chúng tôi! chúng tôi dùng cùng phương cách, kể cả
    cách ăn mặc như Việt Minh... Tôi , cũng như người của tôi, đi chân không,
    chỉ mặc quần cụt, lựu đạn giắt lưng, đeo súng carbine . Bề ngoài chúng tôi
    không giống quân đội Pháp mà giống kiểu dân da đỏ miền Tây nhưng tinh
    thần sấm sét và kết quả thu được đã tự nói lên tất cả.

    Trong 4 tháng, hàng chục trận liên tiếp thành công. Xứ này đã ăn sâu
    vào da thịt tôi và tôi xem như là ở nhà của mình.

    Tháng 10, chúng tôi chia tay nhau trong nuối tiếc. Những người của tôi
    đã học cách sống trong thiên nhiên, tách biệt những cái đê tiện của con
    người. Nhất là sau vài tuần, nhưng người nọ đã tìm lại sự hãnh diện của
    mình. Họ quay về khi đã hoàn thành nhiệm vụ trong chiến thắng. Về phần
    tôi, không có lý do nào để ra đi. Trong khi đó ông Hồ Chí Minh đang trải
    những ngày mùa hè ở Pháp để thương thuyết cho nền độc lập. Sự việc vẫn bế
    tắc. Chỉ có một tạm ước đến tháng giêng 1947. Ông sẽ không cầm cự nổi.

    20-11, sau nhiều biến cố, hạm đội của Pháo nã đạn vào khu phố Tàu ở
    Hải Phòng. Vào tháng 12, cuộc tổng nổi dậy nổi lên. Tôi chỉ huy đại đội 3
    tiều đoàn tự trị Thái, được tăng cường thêm vài lính du kích. Chúng tôi
    khoảng 400 quân thiện chiến, rành rẽ địa hình và một nhúm sĩ quan Pháp để
    chỉ huy. Những sĩ quan từ trường Sant-Cyr ít khi ra trận nhưng thích nghi
    nhanh theo tôi.Chúng tôi mau chóng thành “đạo quân Bigeard”.

    Chưa đầy 1 năm, chúng tôi đã chiếm được toàn bộ xứ Thái đen từ tay
    Việt Minh. Một cuộc tấn công gần 120km. Dân chúng ủng hộ chúng tôi hoàn

    toàn. Người Thái là một sắc dân riêng, với chỉ huy, già làng, tập tục riêng và
    họ ghét dân Bắc Kỳ. Trong mỗi làng, chúng tôi được tiếp đón như những
    giải phóng quân, được lo ăn ở.. Quá ngon lành!

    31-12, tôi nhận lệnh chiếm Sơn La trên đường số 41 băng xuyên vùng
    cao nguyên Bắc Kỳ. Tôi lại ra đi với quân của tôi gồm bốn đại đội biệt kích.
    Người Thái đã mở cho chúng tôi những con đường, mà Việt Minh không hề
    biết. Chúng tôi hành quân trong 2 ngày ròng rã và mang theo súng cối, điện
    đài, đạn pháo với mức lương thực tối thiểu.

    Sáng ngày 2-1-1947, chúng tôi đến Mường La. Chúng tôi quan sát ống
    nhòm thấy quân Việt Minh và chúng tôi đặt cối trên các điểm cao. 100 quả
    pháo kích dội xuống. 2 phân đội của tôi tràn ra và chiếm ngôi làng dễ dàng.
    Chúng tôi tiếp tục hành quân nhanh qua Sơn La đến một ngôi làng nhỏ dưới
    chân đỉnh núi. Tôi bố trí quân biệt kích các nơi. Một đội biệt kích đến đường
    số 41 để đánh lạc hướng địch và gây những tiếng nổ kinh hoàng. Quân Việt
    Minh nhào ra đường và lọt bẫy. Chúng tôi ùa ra la hét đồn dập đánh từ sau
    lưng địch.

    Chúng tôi đã toàn thắng. Khu đồn trú của Việt Minh bị tiêu diệt gọn.
    Kết quả: 120 người chết và bị bắt làm tù binh. Thiệt hại chúng tôi gần nhưng
    không có gì. Tôi chỉ ở trong làng 48 tiếng và tiếp tục hành quân trong vòng 3
    tuần đến Nà Sản và đèo Con Oi.

    Đầu tháng 2, chúng tôi ở miệt Yêu Châu và Bản Thìn.

    Chúng tôi đã giải tỏa hàng chục km đất đai. Chúng tôi luôn dùng một
    chiến thuật duy nhất: tình báo, hành quân đêm, tiếp cận địch lúc mờ sáng sau
    đó đánh lạc hướng và tấn công từ trên cao. Chúng tôi sống cuộc sống như
    thú rừng, leo trèo núi trên những con đường hiểm trở tường chừng như sức
    người không thể vượt qua.

    Nhưng số người chết và bị thương bắt đầu tăng dần khiến chúng tôi
    phải phục hồi lực lượng. Tôi quyết định dưỡng quân ở Bản Thìn một tháng.
    Tôi lợi dụng để điều chỉnh tình hình quản lý, huấn luyện và gia tăng sự ủng
    hộ của quân du kích.

    Ngày 2-4, điện đài báo tin chúng tôi hay có cuộc hành quân quan trọng
    của Việt Minh cách đó vài km. Có hai giải pháp: hành quân đêm và chuẩn bị
    đối đầu. Tôi chọn giải pháp thứ hai. Lực lượng phòng vệ chúng tôi đủ mạnh
    và đây là một kinh nghiệm tốt để lính của tôi quen chiến đấu. Báo động 48

    tiếng được phát ra.

    Ngày 4-4 lúc 2 giờ sáng, họ tấn công chúng tôi, vốn đã sẵn sàng từ
    trước. Tám giờ chiến đấu bằng súng máy và đạn pháo. Quân Việt Minh rút
    lui và tôi quyết định tấn công. Chiến thuật cũ lại áp dụng: nhiều ngày hành
    quân, ít giờ nghỉ ngơi, chỉ ăn ít cơm nắm nguội, tấn công lúc mờ sáng.
    Chúng tôi dùng cách cũ chiếm được Bản Na nga, Tú Nang,và Mường Lùm.

    Ngày 3-5, Chúng tôi kết bè vượt sông Đà đối diện Vân Yên mà chúng
    tôi đánh chiếm ngày 8-5. Từ cả tháng nay tôi không hề báo cáo cho cấp trên.
    Tôi chỉ báo cáo tin ngắn gọn: “Đã lấy Vân Yên”.

    Những tuần này khá thành công. Chúng tôi không hề gặp kháng cự.
    Chúng tôi dẻo dai, nhanh nhẹn trên đôi chân thép và sức lực vượt bậc. Việc
    chiếm Vân Yên và việc đơn vị khác từ Mộc Châu từ phía nam đến giải tỏa,
    xứ Thái đen đã gần như được giải phóng. Tôi quyết định lập bộ chỉ huy
    trong vài tháng. Phân đội tôi đóng từ thung lũng Suối Tóc đến Khuê Lang.
    Chúng tôi liên lạc với nhau bằng điện đài tạo một hê thống tình báo chặt chẽ,
    tiếp xúc dân xứ Thái thường xuyên. Tôi lợi dụng vài tháng này để bình định
    xứ này và tảo thanh Việt Minh.

    Một giai thoại là: 3 tháng một lần người chúng tôi được gửi đi lấy thư
    và đạn dược ở Mộc Châu. Đến phiên trung úy Guilleminot dẫn đầu khoảng
    40 lính du kích. Ngay hôm sau, tôi thấy họ quay về không có Guilleminot.
    Họ bảo rằng bị Việt Minh phục kích gần sông Đà.. Vài giờ sau, tôi thấy anh
    trung úy quay về mặc bộ pyjama trắng trong chiếc dù. Quân Việt Minh đã
    bắt anh trong khi ăn mặc như vậy, nhưng trời tối, họ tưởng anh là cô gái trẻ
    xứ Thái và họ thả anh đi. Đúng là một vận may. Tôi buộc phải cho anh tin
    rằng tôi phạt giam anh 8 củ vì tội đánh giặc mặc đồ ngủ. Nhưng dù sao cũng
    may là anh thoát chết.

    Mùa thu 1947: Những ngày hành quân của tôi kết thúc và tôi phải kết
    thúc cho đẹp. Tôi được báo một bộ chỉ huy Việt Minh và một tiều đoàn cách
    40km trong vùng phiến quân. Lính Thái bảo có thể dẫn đường chúng tôi mà
    không bị phát hiện. Tôi mang theo 100 quân và hành quân trong 3 ngày. Khi
    còn cách bộ chỉ huy địch 2km, tôi cho quân nghỉ và họp ngắn trước khi tấn
    công. Một đội xung phong, đội khác phục kích, tôi và quân còn lại tấn công
    thẳng vào quân Việt Minh.

    Chúng tôi tràn quân tấn công dứt khoát với hỏa lực cối 60 ly yểm trợ.
    15 phút sau chúng tôi rút quân. Để lại cho địch 20 xác chết. Bên tôi bắt được

    06 tù binh. Tất cả chúng tôi không ai bị thương vong, riêng tôi bị mảnh lựu
    đạn vào cổ. Chúng tôi hành quân gấp quay về. đến Vân Yên, tôi nghe anh
    em nói: “Ông bạn già còn cầm cự nổi” Tôi không dám mơ đến những lời
    vĩnh biệt cảm động như vậy.

    Ngày 20-9, Gaby, vợ tôi và con gái Marie-France 2 tuổi đã đón tôi tại
    sân bay Orly. Lần đầu tiên tôi gặp con gái mình. Trong bộ chỉ huy của tôi tại
    Vân Yên, tôi đã treo hình bé gái của tôi quấn khăn tã trắng. Khi xa người
    thân, người ta buộc phải sống với kỷ niệm với vài bức ảnh hay thư từ hiếm
    hoi…



    1948-1950: Lãnh chúa chiến tranh xứ Thái

    Tháng 10-1947 đến tháng 2-1948. Bốn tháng về phép. Tôi về Toul với
    vợ Gaby và đứa con gái Marie-France. Tôi lại phải khó khăn để làm quen lại
    cuộc sống tại Pháp. Một đất nước chật chội, thức ăn quá bổ dưỡng khiến tôi
    bệnh, chân tôi không còn quen mang giày. Tôi đã tốn tiền cho hai năm tôi
    làm việc quá sức.

    Tôi không theo dõi những gì xảy ra ở Đông Dương. Báo chí hầu như
    không nói gì. Đó là cuộc chiến không được biết đến. Tôi đau lòng vì tôi nghĩ
    đến sự anh hùng của các anh em chiến hữu, của những trung úy đã hy sinh.
    Việc đó chì làm tồi tệ thêm… Tướng Valuy thay thế Leclerc, tiếp tục những
    chiến dịch quy mô vô ích. Tôi rời Bắc kỳ lúc xảy ra cuộc tấn công mùa thu.
    Chắc chắn Việt Minh đã rút vào bí mật. Người Pháp tiếp tục theo đuổi cuộc
    chiến kinh điển trong khi cần phải có đạo quân chống du kích, tức là cần
    phải có tin tình báo, tính linh hoạt, cơ động, rành rẽ địa hình như đối
    phương. Chính trị là phải thủ đoạn. Chắc chắn người Pháp không hiểu gì..
    Giải pháp Bảo Đại bù nhìn lại không được ai công nhận. Đó không phải là
    thực hiện việc trao trả quyền giả tạo để trấn an Việt Minh. Người ta phải tìm
    giải pháp để đánh hay phải rút về nước.

    Dù vậy tôi quyết định tình nguyện sang Đông Dương lần thứ hai với
    máu phiêu lưu và nhất một ít…bổn phận của mình. Chết cho tổ quốc là số
    phận vinh quang nhất… Tất cả những mỹ từ mà những người thầy đã dạy
    cho tôi mà tôi còn tin tưởng… Và cũng là ước muốn để được chiến đấu bên
    cạnh các anh em. Nhất là trở lại vùng cao nguyên mà tôi từng lẩn trốn con
    virus của …bệnh “da vàng”.

    Từ tháng 2 đến tháng 10, chín tháng ở Saint-Brieuse để huấn luyện
    một đại đội nhày dù. Lúc này vợ con ở bên cạnh tôi. Chúng tôi ở trong một
    ngôi nhà nhỏ gần trại huấn luyện và chỉ chiều chúng tôi mới có thể gặp nhau.
    Việc huấn luyện căng thẳng và không lúc nào nghỉ ngơi. Việc này không làm
    tôi không vui vì tất cả phải làm lại từ đầu, tận dụng kinh nghiệm của tôi dạy
    cho những tân binh, nêu lý do tuyển dụng họ và tạo dựng tinh thần…Sau đó
    là huấn luyện : đi bộ 10-15 km hàng ngày, hành quân dồn dập, bắn theo bản
    năng, sử dụng la bàn đột kích ban đêm, và tất nhiên là có nhảy dù. Cường độ
    tập luyện cao duy trì và cuộc sàng lọc gắt gao với 2/3 bị loại. Đó là việc cần
    thiết vì phía Việt Minh cũng không ngớt củng cố trang bị… Ở Đông Dương,
    không ai được phép sai lầm.

    Sau vài tháng, chúng tôi đến trai huấn luyện ở Meucon để tập nhảy dù

    nhiều tuần. Điều kiện khí tượng không quan trọng và ngưới lính dù luôn phải
    sẵn sàng. Chúng tôi thường bị gió thổi đi, tiếp đất trên đường băng cứng,
    thỉnh thoảng còn bị kẹt vào các nhà kho lân cận. Những người giỏi nhất cố
    ứng phó để thoát ra. Những người khác phải nhập viện. Thế còn hơn là bị
    chết tại trận. Khi chúng tôi ra đi vào tháng 10, tôi có thêm công cụ hoàn hảo
    sẵn sàng chiến đấu: những người của tôi. Tất cả đều có bằng nhảy dù với
    những bước đi kiêu hãnh.

    [6]
    26-10-1948, tiều đoàn 3e BCCP từ Marseille lên tàu Pasteur. Chiếc
    tàu đã không ngừng đi lại giữa Pháp và Đông Dương trong suốt cuộc chiến
    để chuyển tân binh vốn đang háo hức và vừa tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra cho
    mình. Gaby và con gái Marie-France đã ra bến tiễn tôi với những từ giã cảm
    động như mọi người khác nhưng không bịn rịn. Tôi sẽ luôn phục vụ quân đội
    nơi nào có giao tranh. Không khí sôi sục trên tàu. Người của tôi hơi căng
    [7]
    thẳng. Với chúng tôi, Các cô PFAT là những người tuyệt vời tham gia
    những công việc đáng ngưỡng mộ ở Đông Dương.

    Các chặng dừng chúng tôi đi qua: Aden, Suez, Colombo, Sumatra.
    Singapour...không khác lần trước. Lần này tôi đã thay đổi so với chuyến đi
    lần trước. Tôi trờ nên ngoan ngoãn hơn trong hầm và nghĩ đến vợ con và
    điều mà gia đình đang mong chờ ở mình.

    Tháng 11, lần thứ hai tôi cập bến Sài Gòn. Không có gì thay đổi. Tôi
    luôn không thích cái thành phố vốn tách biệt với chiến tranh này với mấy sĩ
    quan cao cấp huênh hoang chưa từng đặt chân vô rừng rậm. Sau vài tuần
    không kết quả, tiểu đoàn chúng tôi chiếm một ngã tư rất gần thành phố. Tôi
    trở nên sôi sục vì đã bỏ 12.000km sang đây để làm nhân viên cảnh sát…
    Cũng may mắn cho tôi: đại đội tôi được điều ra Bắc Kỳ. Sự thật tôi đã là
    chuyên gia của xứ này. Và cũng không hứng khởi gì hơn. Tôi tham gia
    những chiến dịch lớn mà tôi không đồng ý và tôi cũng không có sáng kiến
    gì. Đại đội tôi hoạt động trong vùng châu thổ bằng cách bổ sung quân cho
    các đơn vị khác. Tôi thấy tiếc cho các phương pháp điều hành kinh điển của
    bộ tham mưu đã không hề thay đổi để hòng bắt một kẻ thù không thể nào bắt
    được. Khi chúng tôi rầm rộ tiến quân bằng xe tăng và máy bay thì Việt Minh
    đã có thừa thì giờ để rút lui. Việc đó cứ như dùng búa tạ đập ruồi! Người ta
    vẫn luôn không chịu biết rõ cuộc chiến tranh chống du kích ra sao. Ở Hải
    Phòng, cuộc sống êm ả không làm tôi thích thú pha chút nhớ nhà. Quán Café
    du Commerce luôn đông đảo gái Việt và Tàu quyến rũ đứng chờ khách…
    Trong không khí luôn đơn điệu. họ xem như cuộc chiến quá xa xôi và Việt
    Minh cứ thế mà lấn chiếm gặm nhấm dần. Họ đã chiếm lại xứ Thái. Người

    Pháp chỉ còn giữ những thành phố lớn. đường sá và vài đồn bót giữa rừng.
    Tôi nhớ lại 18 tháng tôi tung hoành xứ Thái. Chúng tôi chơi ngang cơ với
    quân Việt Minh với những chiến thắng được chứng minh qua số vũ khí thu
    được và số địch bị diệt.

    Tôi tưởng tượng những gì tôi sẽ từng làm với đại đội tôi một cách trơn
    tru. Giờ thì những gì tôi dạy họ chẳng xài gì được trong lúc này: những cuộc
    hành quân đêm, bắn theo bản năng, chuẩn bị phục kích.. Quả làm một thất
    vọng lớn. Ngày mai sẽ biết.

    Các biến cố dồn dập xảy ra. Đồn Yên Châu vùng cao vừa bị tấn công.
    Một nhúm quân người Pháp và du kích Thái chống cự chật vật với nhiều đại
    đội Việt Minh. Biết rõ tôi nắm địa hình, bộ chỉ huy đã thả dù đơn vị tôi
    xuống. Cuối cùng một chiến dịch thật sự đã chứng minh khả năng lính của
    tôi. Tôi tin tưởng tuyệt đối đội quân hùng mạnh của tôi luôn sẵn sảng chiến
    đấu khi cần thiết.

    Ngày 18-1-1949, Tại sân bay Cát Bi gần Hải Phòng, nhiệm vụ nhảy dù
    đầu tiên được giao. Ai nấy cũng khoe khoang để thư giãn và kiểm tra lần nữa
    trang bị của mình. Chúng tôi lên máy bay. Máy bay cất cánh và Hải Phòng
    biến xa dần lúc bình binh. Tiếng chong chóng máy bay ồn ào khiến chúng tôi
    không thể trò chuyện nhau. Tôi ngồi sát cửa đi đang mở của máy bay. Xứ
    Thái đang hiện ra dưới chân mình và tôi thấy hạnh phúc nhảy dù lần đầu tiên
    trên xứ này. Con đường tỉnh lộ 41 như dãy lụa bên dưới giờ đang bị Việt
    Minh kiểm soát.

    Lúc 10 giờ sau chúng tôi đã cách Hải Phòng 200km. Phi công thông
    báo chúng tôi đến Yên Châu: Cái đồn bót bằng tre vẫn còn đó, trên đỉnh núi
    mà tôi đã chiến đấu trong những ngày đầu tiên. Tất cả các anh em đứng dậy,
    móc đai sẵn sàng nhảy. Go! Các anh em nhảy theo tôi. Quả là yên tĩnh. Một
    chút hạnh phúc trong trẻo khi thả dù lơ lửng. Trên đầu tôi, các anh em nối
    nhau theo sau nhanh chóng. Những chiếc dù trắng bung ra trên trời xanh.
    Chúng tôi thấy quân Việt Minh bỏ trốn. Tôi có cảm giác làm chủ cả thế giới
    khi đến để cứu viện.

    Một cú tiếp đất mạnh làm tôi quay về thực tế. Chúng tôi gom quân lại
    và đi về hướng đồn. Lính trong đồn vui mừng khi thấy chúng tôi đến tăng
    viện. Anh chỉ huy người Corse tên Paccioni nồng nhiệt đón chúng tôi. Anh
    bị điếc tai và tôi phải nói lớn tiếng nói với anh. Paccioni kể lại chuyện bị tấn
    công. Chúng tôi chăm sóc thương binh và tuần tra xung quanh để giải tỏa
    đồn.


    Đêm đến, chúng tôi phải đi bộ tải thương binh đến Nà Sản cách đó
    40km với 6 tiếng đi bộ. Ở Nà Sản, xe tải đã chờ và chở chúng tôi đến bệnh
    viện Sơn La. Chúng tôi quay ngược về đồn sau vài ngày nghỉ dưỡng. Anh
    chỉ huy Paccioni hãnh diện về lính nhảy dù và cầm cự tập kích. Anh giải
    thích rằng khu đất hoàn toàn vững chắc và quân Việt Minh đã trốn khi chúng
    tôi đến. Tôi chỉ tin phân nửa. Tôi đề phòng gởi đi 6 người làm trinh sát.
    Công viện tiếp tục khó nhọc trong không khí nóng nực. Thình lình một loạt
    đạn bắn ra và nhóm trinh sát bị tiêu diệt với nhiều người bị thương. Tôi xả
    hết băng đạn và la: “ Bắn hết ga! Bắn phủ đầu về hướng Việt Minh !”

    Nhóm chúng tôi bình tĩnh ứng phó. Mỗi người đều ở tại vị trí phục kích
    tốt sẵn sàng đón đánh quân Việt Minh. Họ rút lui vì biết rõ không thể tiến
    lên. Chúng tôi gom xác chết, chăm sóc thương binh và rút cẩn thận. Tôi tự
    giận mình vì vì sao mình đã lọt vào cái bẫy quá thô thiển. Tôi biết phải làm
    lại từ đầu. Đó là một bài học do lỗi của tôi làm nhiều người chết. Hôm sau
    tôi một mình đi trên con đường bị phục kích để chứng minh cho người của
    tôi biết rằng tất cả đều tốt.

    Tôi ở đây hơn 8 tháng đến tận tháng 9 trong vùng Chien Dong với
    nhiệm vụ tảo thanh khu vực và triệt tiêu quân Việt Minh từ sông Hồng lên.
    Người chỉ huy cũ đã chuyển đi và tôi phải quản hết các đồn bót hiện có với
    hơn 1.000 lính Thái. Tôi vẩn luôn là đại úy gắn bó với đại đội và phải báo
    cáo lên chỉ huy. Nhưng theo thói quen, người ta tin tưởng giao mọi trách
    nhiệm cho tôi vốn cao hơn cấp bậc hiện tại. Tôi nhanh chóng lập bộ chỉ huy
    trên đỉnh núi Chien Dong. Tôi thiết lập hệ thống tình báo thật sự. Quan đầu
    tỉnh gửi đến tôi một người nhà của ông thên Théo Văn Thục để làm một
    công việc ngoại lệ. Dân chúng nâng đỡ và thông báo tin tức cho chúng tôi.
    Mỗi trung úy của tôi nhận đảm trách một vùng hoạt động và chúng tôi
    thường xuyên hành quân tập kích. Nhóm đã hoạt động 3.000 chuyến. Chúng
    tôi không giống như những lính giữ đồn khác! Vài nhóm quân đóng không
    quá xa căn cứ để phòng vệ… Chúng tôi luôn làm nhiệm vụ săn tìm Việt
    Minh tại những nơi mà họ xem như là an toàn với họ.

    Một chiều nọ tôi quay về và nhận bức điện: “ Đến Sài Gòn. Gaby”. Vợ
    tôi, cũng cứng đầu giống tôi với cái máu phiêu lưu. Tiếc rằng tôi không thể
    đi đón vợ như hầu hết người khác. Một chỉ huy đề nghị cho người đi theo
    tôi. Tôi điện cho một người bạn nhờ đón vợ tôi. Cuối cùng, được giấy thông
    hành và vợ tôi đến ở Sơn La tại nhà một nhân viên hành chính trong vùng
    quân sự, nơi dân thường không được đến! Xem như cho tôi yên tâm rằng vợ
    ở bên cạnh mình.


    6 tháng sau, Tôi phải về Hà Nội với 3e BCCP gắn bó của mình. Chỉ
    huy cấp cao khen ngợi công trạng tôi nhưng tôi không hoàn toàn thỏa mãn.
    Tôi đã mất 30 người. Đó là quá đáng do tôi đã nóng lòng đánh nhanh. Tôi
    hứa lần sau sẽ thận trọng hơn. Khi đọc kết quả báo cáo, ông tướng chỉ huy
    Alessandri quyết định giữ tôi trên vùng cao. Tôi lo thành lập tiểu đoàn lính
    Thái BT3 gồm lính tình nguyện. Số người tình nguyện đông khiến tôi phải từ
    chối bớt. Người Thái vốn thù dân Bắc Kỳ xưa nay. Có thêm vài sĩ quan và
    hạ sĩ quan Pháp từ châu thổ sông Hồng gởi lên cho tôi.

    Ngày 1-10, tiểu đoàn 3e BT đượcthành lập. Tôi giờ có 5 đại đội c...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC TÔ VĨNH DIỆN !