GIỚI THIỆU THƯ VIỆN THÂN THIỆN
bay-ngay-trong-dong-thap-muoi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 08h:57' 16-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 08h:57' 16-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
BẢY NGÀY TRONG ĐỒNG THÁP MƯỜI
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
Nhà xuất bản: Văn hóa Thông tin
Năm xuất bản: 2002.
Đánh máy: Goldfish
Sửa lỗi: Phaplu
Chuyển sang dạng PRC (30/04/'12): Goldfish
Tạo lại (01/01/'16): QuocSan.
MỤC LỤC:
Vài lời thưa trước
Tựa
§I: Một dịp may
§II: Trên sông Vàm Cỏ
§III: Những dân vô định cư trên một cánh đồng hoang vu
§IV: Tháp Mười – Thiên Hộ Dương
§V: Vàng và máu
§VI: Tổng đốc Lộc và các kinh trong Đồng Tháp
§VII: Đường lên giồng
§VIII: Sông Cửu Long
§IX: Một miền phong phú
§X: Cao Lãnh – Kinh Tháp Mười – Kinh Tổng Đốc Lộc
Đoạn kết: Tương lai cánh đồng Tháp Mười
Đọc thêm
* Trích thư Quách Tấn ngày 28.10.1971
* Trích thư Nguyễn Hiến Lê ngày 6.11.1971
* Trích Hồi Ký Quách Tấn
Vài lời thưa trước
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Trong bài Tựa viết năm 1954, tác giả đã cho chúng ta biết khá rõ “số
phận” đặc biệt của tác phẩm này. Hơn hai mươi lăm năm sau, trong Hồi kí
(về sau viết tắt là HK)[1], tác giả còn cho biết thêm một số chi tiết:
“(…) bác Ba tôi[2] từ năm 1913 hay 1914, phải lẻn về làng Tân Thạnh[3] ở
ven Đồng Tháp Mười để tránh bọn mật thám Sài Gòn, rồi lập nghiệp ở đó,
nên biết được cảnh hoang vu của Đồng Tháp hồi đầu thế kỉ, kể cho tôi nghe
nhiều chuyện về dân tình, lối sống, thổ sản miền đó; sau đó tôi lại đi đo
trong Đồng Tháp trong một thời gian rồi đi kinh lí nhiều lần từ Hồng Ngự
tới Tân An; về Sài Gòn tôi đọc thêm được nhiều tài liệu của Sở Thủy lợi,
mua được cuốn La Plaine des Joncs của V. Delahaye, nhờ vậy tôi biết được
khá nhiều về Đồng Tháp.
Sau khi nhận lời anh Vũ Đình Hòe viết giúp tờ Thanh Nghị, tôi khảo cứu
thêm các cuốn sử, địa phương chí, các số báo Courrier de Sài Gòn năm
1865-1866, đọc tất cả những gì liên quan đến Đồng Tháp để viết cuốn Bảy
ngày trong Đồng Tháp Mười, nhưng sau sáu bảy tháng viết xong thì Sở Bưu
điện Sài Gòn không còn nhận đồ bảo đảm ra Hà Nội nữa vì giao thông trắc
trở, tôi đành cất bản thảo đi, đợi một cơ hội khác. Cuốn đó tôi viết công phu,
nhưng sau bản thảo mất ngay trong Đồng Tháp Mười hồi tôi tản cư về đó,
năm 1946. Tôi rất tiếc, và tám năm sau tôi phải viết lại”. (HK, tr.185)
Năm 1947, cụ Nguyễn Hiến Lê qua Long Xuyên, tạm trú nhà bà Nguyễn
Thị Liệp. Ở đó cụ dạy học và viết sách. Cuối năm 1953, cụ thôi dạy học,
quay về Sài Gòn để sống bằng cây bút. Cụ lập nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê
để tự xuất bản sách của mình. Sau khi xuất bản cuốn Tự học để thành
công[4], cuốn sách đầu tiên của nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê, cụ bắt tay vào
việc viết lại cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Cụ cho biết:
“Đầu năm 1954, tôi lại Sở Thủy lợi Nam Việt, gặp lại các bạn cũ và họ
cho tôi tra cứu về các tài liệu của sở về Đồng Tháp, dùng các bản đồ của sở.
Tôi lại Thư Khố Nam Kì đường Gia Long, nhờ ông Lê Ngọc Trụ[5] tìm cho
những tài liệu sử, địa về Đồng Tháp, nhất là các số báo Courrier de Sài Gòn
năm 1865-66, về cuộc chống Pháp của Thiên Hộ Dương. Tất cả những tài
liệu đó tôi ghi trong mục sách báo để tham khảo ở cuối sách.
Đọc những tài liệu của Sở Thủy lợi, tôi nhớ lại rành mạch những lần tôi
đo đất và đi kinh lí ở Đồng Tháp, cho nên viết lại lần này tôi thấy dễ dàng và
thích như lần trước, năm 1944. Những đoạn trích có tính cách nên thơ, mà
năm 1944 tôi đã say sưa viết, bây giờ lần lần hiện lại trong óc, tôi chỉ việc
chép lại, chắc chắn là không đúng hẳn, nhưng cũng không sai mấy. Chẳng
hạn đoạn về Tiếng nói sông Cửu Long mà sau vài sách Việt Văn cho Trung
học đã trích; đoạn tả các ghe đậu lại ở chỗ giáp nước Thủ Thừa; tả chỗ kinh
Lạc Giăng (Largrange) và kinh Cát Bích (4 bis) gặp nhau ở Gẫy[6] mà nhà
văn Bình Nguyên Lộc bảo “không đi tới chỗ thì không thể tả được như vậy”;
rồi cảnh tìm vàng ở chung quanh Tháp Mười, cảnh một đầm sen ở giữa
Đồng Tháp mà thi sĩ Quách Tấn rất thích[7]; cảnh uống rượu dưới trăng trên
Giồng khiến tôi nhớ truyện Các vì sao (Les étoiles) của A.Daudet; cảnh sông
Cửu Long, cảnh Chợ Thủ, cảnh trăng và nước ở miền Cao Lãnh (Hàng
Châu của Nam Việt) gợi cho tôi nhớ bài “Xuân giang hoa nguyệt dạ” của
Trương Nhược Hư, thi sĩ đời Sơ Đường; và truyện Ghen vì hò mà một cô em
đọc xong buồn rười rượi, thương thiếu phụ trong truyện trách tôi: “Anh thật
tàn nhẫn, truyện thương tâm như vậy mà anh kết một cách thản nhiên, chỉ tả
công dụng của cái phãng, không một lời than thở cho người vợ và trách
người chồng”.
Tôi đáp: “Người viết chỉ cốt gợi lòng thương tâm của người đọc, chứ
không kể nỗi thương tâm của chính mình. Tôi đã đạt được rồi đấy và đã
không nói thay cô, để cô suy nghĩ, như vậy mới có dư âm trong lòng cô”.
Đồng Tháp chỉ dầy hơn một trăm trang, vừa du kí, vừa là biên khảo, tôi
viết hai tháng xong, gởi vào trong đó tất cả tấm lòng yêu cảnh, yêu người
Nam của tôi. Viết xong tôi thấy khoan khoái như làm trọn một bổn phận đối
với quê hương thứ hai của tôi”. (HK, tr.349-350)
Cuốn đầu, tức cuốn Tự học để thành công, cụ giao cho nhà in Việt Hương
(đường Lê Lợi); cuốn thứ hai, tức cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười
này, cụ giao cho nhà Ban Mai gần chợ Tân Định in ngay trong năm 1954.
Tác phẩm này có thể xem là loại du kí viết về quê hương đất nước mình đầu
tiên và nó mở đầu cho loại địa phương chí xuất hiện khá nhiều sau này. Cụ
cho biết:
“Một thanh niên ở Nha Trang đọc cuốn đó rồi nảy ra ý dùng xe đạp đi
thăm cao nguyên miền Trung và viết bài đăng trên báo Tự do ngày 15-9-61.
Tôi trích dưới đây một đoạn:
“Du ký viết về xứ người thì nước mình không hiếm. Nhưng viết về chính
lòng đất thân yêu thì vỏn vẹn chỉ có một cuốn: Bảy ngày trong Đồng Tháp
Mười của Nguyễn Hiến Lê. Mà theo tôi thấy, không có cuốn địa lí nào có thể
hấp dẫn thanh niên và gây tác dụng mạnh bằng những thiên du kí (…) Vì nó
dễ kích thích tinh thần yêu nước của thanh niên hơn những bài địa lí khô
khan ở nhà trường (…)”.
Đa số các bạn văn của tôi cho cuốn đó tuy mỏng nhưng là một tác phẩm
có giá trị, văn tươi mà hấp dẫn, có chỗ nên thơ, gợi tình yêu quê hương đất
nước trong lòng người đọc. Ông Đào Duy Anh ở Hà Nội rất thích cuốn đó,
bạn văn nào tới chơi ông cũng đem ra giới thiệu và cho mượn đọc.
Có thể nói nó mở đầu cho loại địa phương chí xuất hiện khá nhiều trong
khoảng 1960-1970”. (HK, tr.352).
Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê “ra đời không gặp thời”. Hiệp ước Genève
đã làm “thị trường sách đã thu hẹp mất non một nửa, ít nhất là một phần
ba”, và vì cụ Nguyễn Hiến Lê cho rằng cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp
Mười sẽ bán không chạy bằng cuốn Tự học nên cụ “chỉ in có 2.500 cuốn, giá
29 đồng”. Nhưng kết quả thật bất ngờ. Cụ cho biết:
“Mới phát hành được độ một tuần thì nhà Nam Cường đã bán hết 100
cuốn, bảo tôi giao thêm “vì sách bán chạy như tôm tươi”. Tôi ngạc nhiên,
không hiểu tại sao độc giả hoan nghênh như vậy. Sau hỏi ra mới biết chỉ nhờ
cái nhan sách. Lúc đó các anh em kháng chiến ở Nam đương tập kết ở hai
địa điểm Cà Mau và Cao Lãnh thuộc Đồng Tháp Mười để chờ tàu Ba Lan và
Pháp chở ra Bắc. Đọc nhan đề sách độc giả tưởng lầm rằng tôi đã vào Đồng
Tháp làm một cuộc phỏng vấn về cuộc tập kết đó. Về nhà đọc rồi họ mới thất
vọng. Thành thử chỉ trong một tháng đầu bán được ngàn cuốn, đủ vốn in,
còn 1500 cuốn bán lai rai năm sau mới hết”. (HK, tr.360)
Năm 1971, cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười được tác giả “sửa chữa
lại và nhường bản quyền cho nhà Trí Đăng xuất bản”. Bản tôi chép lại dưới
đây của Nxb Văn hóa Thông tin, năm 2002, có lẽ được in lại từ bản in của
nhà Trí Đăng.
Sau một thời gian dài dọ hỏi, tôi mua được bản của nhà Văn hóa Thông
Tin và vội gõ ngay bài Tựa cuốn này, một trong các bài Tựa tác giả tâm đắc,
và đăng trên topic “Một số bài Tựa cụ NHL viết cho sách của mình”. Trong
khi gõ dỡ dang Chương I: Một dịp may, tôi đã có “một dịp may”. Đó là nhận
được cuốn Nguyễn Hiến Lê – Con người & Tác phẩm của Nhiều tác giả
(NHL CĐ&TP), và một cuốn sách khác nữa do một người cô họ ở Nha
Trang gởi tặng. Tôi tạm ngưng cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười lại để
chuyển qua cuốn NHL CĐ&TP như là một cách tỏ lòng biết ơn người tặng
quà. Tôi đã đăng được hai bài, một ảnh và chú thích một ảnh khác.
Khi gõ gần xong Chương VII, máy tính bị trục trặc, phải cài lại. Cũng
may là tôi gõ xong đoạn nào thì đăng đoạn đó, phần gõ dở dang không bao
nhiêu. Nay gõ xong cả cuốn, tôi phải chép lại từ TVE phần đã đăng. “Số
phận” Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười một lần mất bản thảo vận vào bản
điện tử này chăng?
Trong lúc gõ, tôi ghi thêm một số chú thích và một số hình ảnh sưu tầm
trên mạng (trong sách chỉ có hình chỗ giáp nước và bản đồ Đồng Tháp
Mười) để chúng ta dễ hiểu tác phẩm mình đang đọc hơn. Tôi đã có dịp sống
khoảng một năm ở một vùng đất cũng đầy cỏ năng, bàng, lát, lau, sậy…;
cũng có bông sen, bông súng, lúa ma; cũng có lung, có giồng; cũng có tràm
lụt… Như những người nông dân sống ở vùng đất ấy, tôi cũng cấy lúa, cắt
lúa, bẩy chim, bắt cá… Vào mùa khô, nước chua lòm, phải gội đầu bằng bột
giặt, nhưng mùa lụt thì nước ngọt tràn ngập khắp nơi và khi nước xuống thì
cá nhiều vô số kể. Một lần, cùng hai người bạn đi kéo cá ở cuối một con kinh
nhỏ[8], một con kinh đổ ra kinh Vĩnh Tế, điên điển trên bờ chỉ còn lác đác
mấy bông trỗ muộn, sắc đã kém tươi. Đến lượt thay phiên, tôi leo lên bờ và
bất chợt thấy một vạt hoa vàng rộng chừng bốn, năm chiếc đệm, bò lan trên
nền đất màu xám, leo lên mấy cây sậy, cây lác. Đó là của một loại dây leo
giống như bìm bìm, hắc sửu, nhưng bông màu vàng như màu bông mướp
chứ không phải màu trắng hay màu tím nhạt. Tôi đứng lặng người rất lâu.
Một cảm giác là lạ tràn ngập lòng tôi, một cảm giác chưa từng có trước đó,
mãi đến bây giờ cũng chưa từng lập lại khi ngắm hoa. Thế đấy. Ở vùng đất
hoang vu cũng có cái đẹp bất ngờ! Đồng Tháp Mười hẳn cũng thế!
Trong eBook mới này, để tiện tham khảo, tôi chép thêm vào phần Đọc
thêm:
- Trích thư Quách Tấn ngày 28.10.1971;
- Trích thư Nguyễn Hiến Lê ngày 6.11.1971;
- Trích Hồi Ký Quách Tấn.
Ngoài ra, bạn Phaplu còn giúp tôi sửa lỗi chính tả. Xin chân thành cảm ơn
bạn Pháplu và xin trân trọng giởi đến các bạn.
Goldfish
Tháng 12 năm 2008
Bổ sung tháng 12-2011 và tháng 4-2012
TỰA
Tháng 7 năm 1934, tôi ở Trường Công chánh ra. Hai tháng sau, có người
giới thiệu cho tôi một chỗ làm ở Lào tại Savanakhét, nơi hiện nay có cuộc
xung đột. Tôi lúc ấy thích xứ Lào lắm vì đã được đọc một ít sách tả đời sống
an nhàn giữa cảnh thiên nhiên của các cô “phù sao”[9] ngây thơ và tình tứ;
nhưng mẹ tôi không muốn cho đi Lào, bảo:
- Mày qua bên đó, mỗi lần tao đi thăm mày sao được? Rồi mày cưới một
con vợ Lào, nó nói tiếng nó, tao nói tiếng tao, làm sao hiểu nhau?
Thế là tôi đành chờ một cơ hội khác.
Ba tháng sau, người ta cho tôi một chỗ làm ở Sài Gòn. Sài Gòn tuy xa hơn
Lào và tuy đối với mẹ tôi cũng là xứ lạ – người quê mùa lắm – nhưng đường
đi có phần dễ hơn mà lại gần nơi một ông bác ở[10], nên mẹ tôi bằng lòng
cho tôi đi, và tôi đi Sài Gòn sáng một ngày gần Tết.
Ở Sài Gòn được mươi ngày thì có lệnh đưa tôi đi làm tại Long Xuyên,
nhằm ngay tỉnh bác tôi ở, thế là tôi có dịp ăn Tết ở một làng hẻo lánh, bên bờ
sông Tiền Giang, trên Đồng Tháp Mười.
Chiều mùng một Tết, tôi và vài anh em ra sau nhà; nhìn sương, khói phủ
rặng tre ở rạch Trà Bông, tôi bồi hồi nhớ những bụi tre ở Sơn Tây, và trong
cảnh xa quê tôi yêu ngay làng đó, một điểm trên Tháp Mười như quê hương
thứ hai của tôi vậy.
Những năm sau, Tết nào tôi cũng về đó chơi và gặp được vài bạn thân gần
như ruột thịt. Năm 1937, sau khi đo khắp các tỉnh ở Hậu Giang, tôi được đo
ngay tỉnh Đồng Tháp. Nằm trong một chiếc ghe hầu[11], tôi đã lênh đênh
khắp các kinh, rạch từ Hồng Ngự tới Thủ Thừa, từ Cái Thia tới Mộc Hóa; có
khi đi trọn một tuần giữa một vùng bát ngát toàn lau, sậy, bàng, năng, hai ba
chục cây số không có một nóc nhà, một bóng người.
Sau sáu bảy tháng như vậy, tôi có thể tự hào rằng rất ít người Việt, ngay
cả những bạn Nam, được biết rõ cảnh Đồng Tháp như tôi.
Biết thì biết, mà chưa bao giờ có ý định viết về cánh đồng ấy.
Đầu năm 1944, có dịp ra Hà Nội, tôi gặp một bạn học từ lớp nhất, làm chủ
bút một tờ báo[12]. Anh bảo tôi:
- Đồng bào ngoài này không biết chút gì về miền Nam. Anh sống ở trong
ấy, nên chép lại những điều mắt thấy tai nghe cho độc giả hiểu thêm xứ
Đồng Nai.
Tôi nghĩ ngay đến Đồng Tháp Mười, đáp:
- Xin lĩnh ý anh, tôi sẽ viết về cánh Đồng Tháp.
- Cánh đồng ấy ở đâu? Tôi chưa hề biết nó.
Tôi cười:
- Anh làm sao biết được? Sách địa lí chỉ nói về nó một hai hàng, mà lại đặt
cho nó một cái tên khác, là “Đồng Cỏ Lát[13]” (Plaine des Joncs), nên nói
đến Đồng Tháp thì mười người Việt, chưa chắc được một người biết.
Về Sài Gòn, tôi thu thập ngay tài liệu về địa lí, thủy học (hydraulique),
kinh tế, phong tục thì tôi đã có sẵn nhờ sáu bảy tháng sống trong đồng. Chỉ
thiếu tài liệu về lịch sử. Thì may, nhờ người giới thiệu, tôi được ông Khuông
Việt, hồi đó tòng sự tại Thư Khố Nam Kì, chỉ giùm cho một số sách, báo,
bản đồ để tham khảo.
Sáu tháng sau, tôi viết xong cuốn Đồng Tháp Mười dày khoảng 150 trang,
đem gởi cho tòa soạn nhưng vì giao thông trắc trở, Sở Bưu điện ở Sài Gòn
không nhận đồ bảo đảm ra Bắc nữa.
Thế là đành sai hẹn với anh bạn và bản thảo phải cất trong rương, đợi một
cơ hội khác, vì tôi chưa đủ tiền đem in mà cũng chưa quen một nhà xuất bản
nào.
Thượng tuần tháng 10 năm 1945, tôi lại về Đồng Tháp Mười, tại nhà bác
tôi. Một đêm sáu bảy tên cướp vào đánh nhà, chủ ý là bắt cóc một ông điền
chủ lớn đang lánh nạn trong nhà; song, rủi cho chúng và rủi cho tôi, ông điền
chủ đó trốn thoát, chúng đành vơ vét ít quần áo, mùng mền rồi ôm luôn cái
va li của tôi đi. Thế là tập Đồng Tháp Mười mất ngay trong Đồng Tháp
Mười. Tôi tiếc lắm!
Vậy là tôi đã có cái duyên mới được bổ vào làm ở cánh Đồng Tháp rồi
gặp bà con ở đó, nên mới biết rõ được nó. Lại có cái duyên bạn một ông chủ
bút trọng lịch sử và địa lí Việt Nam, nên mới hăng hái viết về cánh đồng ấy.
Nhưng lại vì vô duyên nên viết xong, in không được mà đến bản thảo
cũng không giữ được.
Cuối năm ngoái, sau một thời gian xa cách tám năm tôi trở về Sài Gòn, và
cố ý viết lại cuốn Đồng Tháp Mười. Tôi bỏ ra một tháng tìm lại những tài
liệu cũ, song mười phần thu thập được bốn, năm; hoặc vì chính những tài
liệu đó đã mất, hoặc vì tôi không còn biết kiếm ở đâu ra.
Một hôm, nhân vào chào ông giám đốc Thư viện Nam Việt – vì ông đã có
nhã ý giúp tôi ít nhiều tài liệu – ông giới thiệu anh Lê Ngọc Trụ với tôi. Từ
trước anh Trụ và tôi chỉ biết tên nhau chứ chưa biết mặt nhau nên gặp nhau
chúng tôi mừng lắm và khi hay tôi đương băn khoăn vì thiếu tài liệu về Đồng
Tháp thì anh tỏ ý sẳn sàng giúp liền, và chạy đi ôm về từng chồng sách cho
tôi coi. Những học giả thường tậm với văn hoá như vậy!
Thế là lần này, nhờ cái duyên văn tự, tôi lại tìm được gần đủ tài liệu về
Đồng Tháp mà lần trước tôi đã kiếm ra và ăn tết Giáp Ngọ xong, tôi khởi sự
viết ngay trang đầu.
Vậy là lời cổ nhân đã đúng một lần nữa: “Phải có duyên mới viết được
một quyển sách”.
Hôm nay, đã viết xong trang cuối, tôi tự hỏi: “Có duyên để xuất bản
không đây? Hay là bản thảo lại thành đất bùn trong Đồng Tháp một lần
nữa?”. Như con chim phải tên, tôi nghi ngờ hết thảy. Chỉ khi nào sách bày
trong cửa tiệm, tôi mới có thể nói chắc được.
Viết cuốn này, tôi có ý tặng các bạn Bắc và Trung để các bạn ấy biết thêm
một miền trên đất Việt, nhưng cũng là để tặng các đồng bào miền Nam của
tôi nữa.
Non 20 năm sống trên đất Đồng Nai này, tới đâu tôi cũng được tiếp đón
một cách chân thành và thân mật.
Một đêm ở trên kinh Phong Mĩ, trong Đồng Tháp, vào đụt mưa trước cửa
một căn nhà lá. Lúc đó đã quá hai giờ khuya. Một bà già trong nhà đằng
hắng hỏi tôi. Tôi đáp. Tức thì có tiếng lục đục, rồi tiếng quẹt; một tia sáng lọt
qua tấm vách lá và một bà cụ mở cửa, mời tôi vào. Căn nhà nhỏ quá, chừng
sáu thước vuông, kê mỗi một bộ ván gỗ tạp. Một cô độ mười bảy, mười tám,
xếp vội mùng, mền, chào tôi rồi đứng nép một bên. Tôi ân hận làm mất giấc
ngủ của chủ nhân, xin lỗi cụ rồi ra đứng trước cửa, nhưng bà cụ không chịu,
nhất định bắt tôi vào ngồi nghỉ trong nhà vì “ngoài đó gió lạnh lắm”.
Hai bà cháu thức trên một giờ, tiếp chuyện tôi cho tới khi mưa ngớt. Đưa
tôi ra cửa bà cụ nói:
- Tội nghiệp thầy Hai, đường trơn, coi chừng té đấy.
Một lần khác, vào thăm một vườn quít ở Tân Thuận, tôi được chủ nhân,
một bà già góa chỉ đủ ăn chứ không giàu, tiếp đãi một cách cực kì đôn hậu,
cố giữ tôi lại dùng một bữa thịnh soạn do chính tay bà nấu lấy và khi từ biệt
bà, xuống ghe thì đã thấy ở dưới ghe, năm, sáu chục trái quít và hai ba nải
chuối.
Tôi nhớ hoài một bà cụ khác[14] rất nghiêm khắc mà rất nhân từ, đã giúp
tôi trong lúc tản cư được yên ổn học hỏi và viết sách. Cụ rất ít nói nhưng có
những cử chỉ cảm động vô cùng. Một hôm gần Tết, cụ bảo tôi: “Tôi biết thầy
có học Nho, không quên tổ tiên, nên bảo trẻ mua đồ cúng, thầy dọn bàn này
đi mà cúng ông bà”. Tôi muốn rưng rưng nước mắt. Hương hồn cụ lúc nầy
chắc tiêu diêu ở cõi Phật.
Một thi nhân vịnh Nam Việt có câu:
“Tối khả hoài nhân duy lão mỗ”
Lời ấy thật đúng! Không ai quên được tấm lòng rộng rãi, thương người
của các bà già miền Nam.
Những bà cụ ấy, đều chất phác, không biết sử kí và địa lí nước Việt, mà
đối với tôi – một người phương xa mới tới – thân mật như trong nhà, làm
cho tôi nghĩ tới “đầu óc địa phương” của một số bạn “có học thức” của tôi
mà xấu hổ thay cho họ! Họ mạt sát hết thảy những cái gì không phải ở trong
cái xứ họ mà ra. Còn giữ tinh thần hẹp hòi ấy thì còn bị người ta chia rẽ, còn
phải làm nô lệ.
Tôi mong rằng đọc xong cuốn này, đồng bào Trung, Bắc hiểu đồng bào
miền nam hơn và hết thảy chúng ta đoàn kết, tương thân tương ái nhau hơn.
Được như thế là tôi đã đạt được mục đích và đáp lại một phần nào tấm
lòng thành thực tự nhiên của các bạn miền Nam. Trong số các bạn ấy, tôi
phải cám ơn trước hết cô Nguyễn Thị Liệp và học giả Lê Ngọc Trụ là những
người đã giúp tôi tìm tài liệu soạn cuốn này.
Sài Gòn, ngày 15-4-1954.
CHƯƠNG I: MỘT DỊP MAY
Trung tuần tháng 3 năm 1939, một buổi tối, anh Bình với tôi ngồi uống
nước trà hột ướp sen bên hai chậu lan trong một khu sân nhỏ tại Khánh Hội
(Sài Gòn).
Bình là con một thương gia, mới đậu cử nhân Luật, vào chơi Sài Gòn lần
này là lần đầu.
Anh cầm tờ T.Đ.[15] coi qua vài cái tựa chữ lớn, rồi bỏ xuống, nói:
- Tôi không thể nào đọc báo trong này được.
- Sao thế?
- In sai nhiều quá. Hỏi, ngã nhầm be bét, rồi ác, át, an, ang… không phân
biệt, thật chướng mắt. Cây cau mà in là cây cao thì có chết tôi không chứ?
- Còn báo ngoài Bắc, không in sai sao? S thì lầm với x, tr với ch… mà sao
anh không thấy chướng?
- Bề gì ngoài mình in cũng ít lỗi hơn. Còn về nội dung thì bài vở tầm
thường lắm. Ít bài xã thuyết có giá trị. Có lẽ chỉ có mỗi tờ tuần báo Mai là
đọc được. Nói chung thì về văn học, Sài Gòn còn kém Hà Nội xa.
- Thế còn về phương diện khác? Anh đã ở đây được một tuần, đã đi thăm
gần hết những nơi đáng coi, đã được biết vài vùng ngoại ô như Gò Vấp, Thủ
Đức và nhận xét vài gia đình Nam, anh cho biết cảm tưởng của anh ra sao?
Bình suy nghĩ một chút, đáp:
- Khó nói quá vì cảm tưởng còn hỗn độn. Hồi anh mới vào – dễ trên bốn
năm rồi đấy nhỉ? – cảm tưởng anh thế nào? Để xem có giống của tôi không?
- Chắc không giống vì hoàn cảnh của tôi khác. Hồi ấy tôi vì mưu sinh phải
vào đây, còn anh đi chỉ có mục đích du lịch. Tôi tới Sài Gòn trong lúc thiên
hạ sửa soạn ăn Tết. Đi dạo chợ Bến Thành, không thấy cành đào và thủy tiên
mà chỉ thấy dưa hấu cùng hoa sen, tôi chán nản lắm[16].
Song bây giờ thì tôi quen rồi và thích đời sống ở đây.
- Có lẽ tôi đi du lịch nên tôi thích ngay Sài Gòn từ phút bước chân ở xe
hỏa xuống. Tôi thích từ giọng trong trẻo, lanh lảnh của các thiếu nữ, tới
những rặng sao cao vút, thẳng tấp và khí hậu mát mẻ điều hòa ở đây. Anh
nói mùa này là mùa nóng nhất mà đêm có thể đắp chăn đơn được thì thấm
vào đâu với mùa hè ngoài mình, nắng tới nứt tre, quạt luôn tay mà mồ hôi
vẫn nhễ nhại.
Nhất là tính tình đồng bào ở đây vui vẻ, tự nhiên, hợp với tôi lắm, không
kiểu cách như các bà hàng Bạc, hàng Đường ở Hà Nội. Không khi nào tôi
quên được cô Ba Đa Kao, má lúm đồng tiền, giọng nói nhẹ nhàng, thân mật
quá. Món nem nướng…
- Lại quên rồi. Chả giò.
- À, quên, món chả giò cô ấy dọn cho ăn bữa đó ngon tuyệt! Còn món cù
lao, món thịt kho nước dừa nữa chứ.
Tôi sẽ chép lại cách nấu các món ấy về chỉ cho bà con ngoài Bắc.
Tôi nói đùa:
- Thích Sài Gòn như vậy thì nhập tịch Sài Gòn phắt đi.
- Chưa biết chừng. Có lẽ ra chuyến này, tôi thu xếp rồi xin phép thầy mẹ
tôi vào làm ăn ở đây.
- Tôi sẽ thưa với hai cụ không cho anh vào vì hễ vào là về không được
nữa. Chắc anh biết câu ca dao này:
Sài Gòn dễ ở khó về
Trai đi có vợ, gái về có con.
- Trai đi có vợ? Thế thì còn gì tuyệt bằng! Thầy mẹ tôi đương mong có
cháu nội ẵm đây. Nhất là khi các cụ được nếm miếng thịt kho nước dừa thì
phải mê các cô Sài Gòn, còn ngăn cản gì nữa?
Chúng tôi đều cười.
Trầm ngâm một lát, anh Bình tiếp:
- Câu ca dao đó đúng thật. Xét kĩ, Sài Gòn không có gì đẹp. Không có
nhiều di tích cũ như Hà Nội; không có thắng cảnh như Hồ Tây, hồ Hoàn
Kiếm, cách ăn mặc phụ nữ ở đây cũng không được nhã: áo dài thì ngắn quá,
mầu thì lòe loẹt quá, ra đường thì nhiều cô chỉ mặc áo bà ba, không quen mắt
như tôi, thấy trơ trẽn lắm; hoa không có thứ quí; hải đường, trà, đào… đều
thiếu; cuộc sinh hoạt thì ồn ào: người ta sống ngoài đường nhiều hơn trong
nhà; quán ăn, tiệm nước đầy phố và lúc nào cũng chật ních khách. Vậy mà
không hiểu sao, Sài Gòn có sức quyến rũ tôi rất mạnh anh ạ.
- Tôi còn nhớ hồi mới tới có cảm tưởng rằng Sài Gòn không phải là một
thành phố Việt Nam. Vừa ở trong một tiệm ăn Quảng Đông ra, tai còn văng
vẳng tiếng xí xô của các hấu théng thì đã gặp ngay một chùa Chà, hương
trầm ngào ngạt, với những Ấn kiều y như tượng đồng đen ngồi xếp bằng tròn
trên gạch bông sặc sỡ.
Ở ngoài đường, ta chạm trán với khách mọi phương: những ông lục Cao
Miên áo vàng nghệ che dù đen, những anh gác dang Băng Ga Li hút điếu
bằng đồng, cần dài và cong, một bọn thủy thủ Anh, da đỏ như tôm luộc, mắt
xanh như nước biển, những anh lính Ma Rốc tóc xoăn, mắt và răng trắng dã!
Rồi người Chàm, người Mã Lai, người Nhật, người Pháp, người Huê kiều ở
Hải Nam, Quảng Đông, Triều Châu… bao nhiêu giống người bấy nhiêu
tiếng nói, y phục, phong tục mà cùng chung sống trên miếng đất này, làm
cho Sài Gòn có những vẻ đặc biệt, khác hẳn với Hà Nội, Huế. Ban đêm vào
Chợ Lớn thì ai mà không có cảm tưởng là đương ở Hồng Kông hoặc Thượng
Hải?
Có lẽ cái duyên của Sài Gòn mà anh vừa nói là ở chỗ ấy. Không khí tại
đây là không khí giang hồ, tứ chiếng. Mỗi lần đứng ở cột cờ Thủ Ngữ hoặc
trước bến Nhà Rồng, hóng mát trên bờ sông, nhìn những chiếc tàu biển từ
phương xa tới, những đoàn ghe từ Lục tỉnh lên, tôi có cảm giác là lạ này anh
ạ: tôi tưởng như trong ngọn gió thổi trên sông, có phản phất hương của muôn
phương. Vì vậy tôi bảo Sài Gòn không phải là một đô thị Việt Nam, nó là
một thương cảng của thế giới. Anh mới biết Sài Gòn chưa có thể nói là biết
Nam Việt được.
- Phải. Tôi cũng mờ mờ nhận thấy rằng Sài Gòn có vẻ tứ chiếng và vẫn
đợi anh đưa đi xem Lục tỉnh đây. Anh đã xin phép nghĩ chưa?
- Khỏi phải xin phép. Một dịp may hiếm có: sở giao cho tôi đi kinh lí
Đồng Tháp Mười trong một tuần lễ. Người ta cho tôi dùng chiếc tàu lớn có
hai chỗ nằm. Tôi đã xin phép cho anh theo.
- Đồng Tháp Mười ở đâu?
- Nó là Plaine des Joncs đấy mà. Anh còn nhớ địa lí Nam Việt không?
- Học lâu quá quên rồi.
- Cánh đồng đó rộng lắm, tôi chỉ trên bản đồ cho anh coi. Bây giờ anh chỉ
cần biết rằng chúng ta sẽ có cơ hội thăm những tỉnh này: Tân An, Mĩ Tho,
Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc.
- Thế ư? Vậy bao giờ đi?
- Ngày mốt.
- Ngày mốt là ngày gì?
- Ngày mai rồi tới ngày mốt. Ngày mốt tức là ngày kia. Nhưng tôi cho anh
hay trước, phải lội sình cực lắm đa!
- Lội sình là sao?
- Sình là bùn lầy. Trong Đồng Tháp Mười, cuối mùa nắng này còn những
chỗ sình tới đầu gối và rộng hàng trăm thước. Lội được không? Lại phải len
lỏi trong đám lau, sậy hàng chục cây số mà không gặp một nóc nhà, một
bóng người, và rắn đỉa thì vô số.
- Eo ơi! Ghê thế kia à? Anh nói thật chứ? Hay dọa đấy?
- Ai dọa anh làm gì? Theo nổi thì theo. Không nổi thì ở lại đây mà xuống
thăm cô Ba Đa Kao để tôi đi một mình.
- Từ Hà Nội vào đây, nằm hai ngày hai đêm trên xe hỏa mà chỉ để biết Sài
Gòn thôi thì ai chịu? Phải theo anh cho biết lục tỉnh chứ. Khó nhọc nào mà
anh chịu được thì tôi cũng chịu được. Ba năm “xì cút”[17] rồi mà!
- Vậy nhất quyết đi?
- Nhất quyết!
- Không sợ rắn hổ dài ba thước và đỉa trâu lớn bằng ngón chân cái ư? Còn
cái nạn muỗi nữa! Nhiều như… không thể tả được, vào trong đồng sẽ biết.
Chỉ thấy chúng bay như đám mây cũng đủ rợn mình.
- Cái gì cũng không sợ. Người Pháp qua đây trèo đèo lội suối chịu đủ gian
lao để biết rõ xứ của ta rồi về vẽ thành những bản đồ, còn chính chúng ta lại
không biết chút gì về giang sơn của tổ tiên để lại thì “mắc cỡ” lắm.
- Học được tiếng “mắc cỡ”. Giỏi. Để mai tôi thu thập ít tài liệu về cánh
Đồng Tháp Mười rồi xuống tàu chỉ cho anh coi. Cánh đồng đó tới nay, đối
với người mình, ngay cả với nhiều người Nam, còn là khu vực bí mật, chứa
nhiều cái lạ. Dù phải lội sình và bị muỗi cắn, đỉa bám thì cũng nên đi cho
biết.
CHƯƠNG II: TRÊN SÔNG VÀM CỎ
Từ Sài Gòn đến Tân An
Tân An
Một câu chuyện phiếm
Đồng Tháp Mười trên bản đồ
Thủ Thừa – Thủy triều ở Nam Việt
Giáp nước
Trên sông Vàm Cỏ Tây – Quận Mộc Hóa
Hai hôm sau vào lúc mờ sáng, chúng tôi lên xe đi Tân An. Khi xe ra khỏi
Phú Lâm không khí thơm ngào ngạt. Chúng tôi khoan khoái hít đầy phổi.
Tôi nói với anh Bình:
- Thôn quê Bắc Việt có hương xoan, hương bưởi, hương chanh thì ở đây
có hương sao, hương sấu, hương mù u. Tôi nhớ mấy năm trước, đi đo ở miền
Hậu Giang, có lần vào xin nước mưa trong một nhà lá nhỏ nọ, tôi cầm chén
nước vừa đưa lên miệng thì ngưng lại: nước thơm quá y như là ngâm hoa.
Rút khăn ra chùi miệng, khăn cũng phảng phất có hương. Nhìn lại mới thấy
căn nhà cất giữa một khu trồng đầy sao và mù u.
- Cây mù u ra sao?
- Nó cao, lá dầy, có bông tựa như bông mai, tuy nhỏ nhưng cũng nhị vàng,
cánh trắng. Tương truyền hồi Nguyễn Ánh thua Tây Sơn, chạy vào miền
Đồng Nai này, thấy bông mù u đặt cho nó cái tên là Nam Mai, nghĩa là mai
phương Nam. Trái mù u tròn và lớn bằng đầu ngón chân cái, hột có dầu dùng
để thắp. Anh nhận kỹ, phong cảnh miền này có khác miền Bắc không?
Bông mù u
- Nhiều dinh thự nguy nga. Nhà thường thì vách ván và lợp ngói hoặc lá
chứ không có vách đất và lợp rạ. Ngoài ra tôi không thấy có gì khác.
- Miền Chợ lớn này khai phá đã hơi lâu năm, lại ít sông rạch, nhiều đường
xe, nên không khác gì miền Bắc. Nhưng càng đi về phía Tây, phong cảnh
càng đổi: nhà cửa rải rác hai bên bờ sông, rạch chứ không thu lại từng chòm,
có lũy tre xanh bao chung quanh, có đường cái xuyên qua và hai cổng gạch ở
hai đầu đường như tại thôn quê Bắc Việt.
Ngồi xe, thấy chỗ nào có rặng cây xanh ở trước mặt là anh biết trước rằng
nơi đó có một dòng nước mà hai bên bờ là làng, xóm, đình, chùa, nhà
việc[18] thường cất ở chỗ hai, ba đường nước gặp nhau. Đó là một đặc điểm
phong cảnh miền Nam.
Chúng ta đang sắp đến cầu Bến Lức rồi. Rặng cây trước mặt là bờ sông
Vàm Cỏ Đông. Một lát nữa, chúng ta sẽ qua một con sông cũng lớn như con
sông này, và gọi là sông Vàm Cỏ Tây. Qua sông đó rồi là tới Tân An, một
châu thành nằm ở ven Đồng Tháp.
Tám giờ, chúng tôi tới Tân An, đã thấy chiếc tàu của sở đậu ở bến.
Chúng tôi cho xe dạo một vòng trong châu thành để anh Bình biết qua nhà
ga, các công sở cùng các biệt thự ở bờ sông Vàm Cỏ, rồi tìm chỗ điểm tâm.
Anh Bình nhất định lựa tiệm ở gần chợ vì anh vốn ưa cảnh náo nhiệt, thích
nhìn người ta đi lại, mua bán. Anh mua một trái dưa hấu và một chục quít,
ngạc nhiên lắm khi thấy cô hàng đếm cho anh mười hai trái. Anh cầm hai
trái trả lại:
- Cô đưa thừa cho tôi. Tôi mua có một chục thôi mà.
Cô hàng nghe giọng là lạ của anh, mỉm cười, đẩy hai trái quít về phía anh:
- Thầy mua một chục thì tôi đếm một chục đó.
Anh Bình chẳng hiểu gì cả, tôi phải giảng:
- Ở miền này trái cây như quít, mận thì một chục là mười hai trái. Có tỉnh
một chục mười bốn hay mười sáu kia.
- Lạ nhỉ! Một chục mười sáu trái. Thế thì có ông thánh hiểu.
Rồi anh quay lại bởn cô hàng:
- Chắc cô bán mắc cho tôi rồi. Một chục mười sáu mà cô bán có mười hai.
Anh cố sửa cho thành giọng Nam, không nói “bán”, “đắt”, “một” mà nói:
“báng”, “mắc”, “moột”.
Cô hàng chỉ mỉm cười, có duyên đáo để, làm cho anh Bình mê tít.
Xuống tàu, tôi giới thiệu anh với nhân viên trong tàu rồi dắt anh đi xem từ
mũi tới lái.
Tàu bắt đầu chạy. Chúng tôi kê hai chiếc ghế gần mũi tàu, ngồi nhìn
phong cảnh. Anh Bình bảo tôi:
- Công chức các anh sướng như tiên. Đi kinh lí thì có cả một chiếc tàu
“bự”. Tính ra chuyến này tốn cho chính phủ bao nhiêu?
- Khoảng 500 đồng[19], kể cả lương và phụ cấp của nhân viên trong tàu,
cùng tiền củi, tiền dầu… Tôi là công chức bậc nhỏ, đáng kể gì? Một viên kĩ
sư Pháp đi kinh lí, là sở cho một người bếp theo để nấu cơm Tây. Tàu họ lớn
hơn tàu này nhiều. Nói chi tới những hạng như thống đốc đi kinh lí.
Kể ra công sở tiêu tiền rất phí phạm. Theo cuốn “Man du tạp ức” của Hồ
Thích, chính phủ tỉnh Quảng Đông năm 1930 tiết kiệm công quĩ một cách ta
khó tưởng tượng nổi. Công chức nào muốn lấy một tờ giấy đánh máy hoặc
một cây bút chì cũng phải ghi vào sổ. Các ông huyện – một huyện bên đó
lớn bằng một tỉnh của mình – mà đi kinh lí chỉ có ngựa và thuyền. (Chẳng bù
với Nam Việt, trong một tỉnh nhỏ xíu, ông chánh tham biện có một chiếc
công xa, ông phó một chiếc khác rồi mỗi ông chủ quận một chiếc. Nhà cách
sở 100 thước cũng phải leo lên xe). Còn y phục thì từ Lí Tông Nhân, Bạch
Sùng Hi, – hai nhà lãnh đạo tỉnh Quảng T...
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
Nhà xuất bản: Văn hóa Thông tin
Năm xuất bản: 2002.
Đánh máy: Goldfish
Sửa lỗi: Phaplu
Chuyển sang dạng PRC (30/04/'12): Goldfish
Tạo lại (01/01/'16): QuocSan.
MỤC LỤC:
Vài lời thưa trước
Tựa
§I: Một dịp may
§II: Trên sông Vàm Cỏ
§III: Những dân vô định cư trên một cánh đồng hoang vu
§IV: Tháp Mười – Thiên Hộ Dương
§V: Vàng và máu
§VI: Tổng đốc Lộc và các kinh trong Đồng Tháp
§VII: Đường lên giồng
§VIII: Sông Cửu Long
§IX: Một miền phong phú
§X: Cao Lãnh – Kinh Tháp Mười – Kinh Tổng Đốc Lộc
Đoạn kết: Tương lai cánh đồng Tháp Mười
Đọc thêm
* Trích thư Quách Tấn ngày 28.10.1971
* Trích thư Nguyễn Hiến Lê ngày 6.11.1971
* Trích Hồi Ký Quách Tấn
Vài lời thưa trước
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Trong bài Tựa viết năm 1954, tác giả đã cho chúng ta biết khá rõ “số
phận” đặc biệt của tác phẩm này. Hơn hai mươi lăm năm sau, trong Hồi kí
(về sau viết tắt là HK)[1], tác giả còn cho biết thêm một số chi tiết:
“(…) bác Ba tôi[2] từ năm 1913 hay 1914, phải lẻn về làng Tân Thạnh[3] ở
ven Đồng Tháp Mười để tránh bọn mật thám Sài Gòn, rồi lập nghiệp ở đó,
nên biết được cảnh hoang vu của Đồng Tháp hồi đầu thế kỉ, kể cho tôi nghe
nhiều chuyện về dân tình, lối sống, thổ sản miền đó; sau đó tôi lại đi đo
trong Đồng Tháp trong một thời gian rồi đi kinh lí nhiều lần từ Hồng Ngự
tới Tân An; về Sài Gòn tôi đọc thêm được nhiều tài liệu của Sở Thủy lợi,
mua được cuốn La Plaine des Joncs của V. Delahaye, nhờ vậy tôi biết được
khá nhiều về Đồng Tháp.
Sau khi nhận lời anh Vũ Đình Hòe viết giúp tờ Thanh Nghị, tôi khảo cứu
thêm các cuốn sử, địa phương chí, các số báo Courrier de Sài Gòn năm
1865-1866, đọc tất cả những gì liên quan đến Đồng Tháp để viết cuốn Bảy
ngày trong Đồng Tháp Mười, nhưng sau sáu bảy tháng viết xong thì Sở Bưu
điện Sài Gòn không còn nhận đồ bảo đảm ra Hà Nội nữa vì giao thông trắc
trở, tôi đành cất bản thảo đi, đợi một cơ hội khác. Cuốn đó tôi viết công phu,
nhưng sau bản thảo mất ngay trong Đồng Tháp Mười hồi tôi tản cư về đó,
năm 1946. Tôi rất tiếc, và tám năm sau tôi phải viết lại”. (HK, tr.185)
Năm 1947, cụ Nguyễn Hiến Lê qua Long Xuyên, tạm trú nhà bà Nguyễn
Thị Liệp. Ở đó cụ dạy học và viết sách. Cuối năm 1953, cụ thôi dạy học,
quay về Sài Gòn để sống bằng cây bút. Cụ lập nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê
để tự xuất bản sách của mình. Sau khi xuất bản cuốn Tự học để thành
công[4], cuốn sách đầu tiên của nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê, cụ bắt tay vào
việc viết lại cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười. Cụ cho biết:
“Đầu năm 1954, tôi lại Sở Thủy lợi Nam Việt, gặp lại các bạn cũ và họ
cho tôi tra cứu về các tài liệu của sở về Đồng Tháp, dùng các bản đồ của sở.
Tôi lại Thư Khố Nam Kì đường Gia Long, nhờ ông Lê Ngọc Trụ[5] tìm cho
những tài liệu sử, địa về Đồng Tháp, nhất là các số báo Courrier de Sài Gòn
năm 1865-66, về cuộc chống Pháp của Thiên Hộ Dương. Tất cả những tài
liệu đó tôi ghi trong mục sách báo để tham khảo ở cuối sách.
Đọc những tài liệu của Sở Thủy lợi, tôi nhớ lại rành mạch những lần tôi
đo đất và đi kinh lí ở Đồng Tháp, cho nên viết lại lần này tôi thấy dễ dàng và
thích như lần trước, năm 1944. Những đoạn trích có tính cách nên thơ, mà
năm 1944 tôi đã say sưa viết, bây giờ lần lần hiện lại trong óc, tôi chỉ việc
chép lại, chắc chắn là không đúng hẳn, nhưng cũng không sai mấy. Chẳng
hạn đoạn về Tiếng nói sông Cửu Long mà sau vài sách Việt Văn cho Trung
học đã trích; đoạn tả các ghe đậu lại ở chỗ giáp nước Thủ Thừa; tả chỗ kinh
Lạc Giăng (Largrange) và kinh Cát Bích (4 bis) gặp nhau ở Gẫy[6] mà nhà
văn Bình Nguyên Lộc bảo “không đi tới chỗ thì không thể tả được như vậy”;
rồi cảnh tìm vàng ở chung quanh Tháp Mười, cảnh một đầm sen ở giữa
Đồng Tháp mà thi sĩ Quách Tấn rất thích[7]; cảnh uống rượu dưới trăng trên
Giồng khiến tôi nhớ truyện Các vì sao (Les étoiles) của A.Daudet; cảnh sông
Cửu Long, cảnh Chợ Thủ, cảnh trăng và nước ở miền Cao Lãnh (Hàng
Châu của Nam Việt) gợi cho tôi nhớ bài “Xuân giang hoa nguyệt dạ” của
Trương Nhược Hư, thi sĩ đời Sơ Đường; và truyện Ghen vì hò mà một cô em
đọc xong buồn rười rượi, thương thiếu phụ trong truyện trách tôi: “Anh thật
tàn nhẫn, truyện thương tâm như vậy mà anh kết một cách thản nhiên, chỉ tả
công dụng của cái phãng, không một lời than thở cho người vợ và trách
người chồng”.
Tôi đáp: “Người viết chỉ cốt gợi lòng thương tâm của người đọc, chứ
không kể nỗi thương tâm của chính mình. Tôi đã đạt được rồi đấy và đã
không nói thay cô, để cô suy nghĩ, như vậy mới có dư âm trong lòng cô”.
Đồng Tháp chỉ dầy hơn một trăm trang, vừa du kí, vừa là biên khảo, tôi
viết hai tháng xong, gởi vào trong đó tất cả tấm lòng yêu cảnh, yêu người
Nam của tôi. Viết xong tôi thấy khoan khoái như làm trọn một bổn phận đối
với quê hương thứ hai của tôi”. (HK, tr.349-350)
Cuốn đầu, tức cuốn Tự học để thành công, cụ giao cho nhà in Việt Hương
(đường Lê Lợi); cuốn thứ hai, tức cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười
này, cụ giao cho nhà Ban Mai gần chợ Tân Định in ngay trong năm 1954.
Tác phẩm này có thể xem là loại du kí viết về quê hương đất nước mình đầu
tiên và nó mở đầu cho loại địa phương chí xuất hiện khá nhiều sau này. Cụ
cho biết:
“Một thanh niên ở Nha Trang đọc cuốn đó rồi nảy ra ý dùng xe đạp đi
thăm cao nguyên miền Trung và viết bài đăng trên báo Tự do ngày 15-9-61.
Tôi trích dưới đây một đoạn:
“Du ký viết về xứ người thì nước mình không hiếm. Nhưng viết về chính
lòng đất thân yêu thì vỏn vẹn chỉ có một cuốn: Bảy ngày trong Đồng Tháp
Mười của Nguyễn Hiến Lê. Mà theo tôi thấy, không có cuốn địa lí nào có thể
hấp dẫn thanh niên và gây tác dụng mạnh bằng những thiên du kí (…) Vì nó
dễ kích thích tinh thần yêu nước của thanh niên hơn những bài địa lí khô
khan ở nhà trường (…)”.
Đa số các bạn văn của tôi cho cuốn đó tuy mỏng nhưng là một tác phẩm
có giá trị, văn tươi mà hấp dẫn, có chỗ nên thơ, gợi tình yêu quê hương đất
nước trong lòng người đọc. Ông Đào Duy Anh ở Hà Nội rất thích cuốn đó,
bạn văn nào tới chơi ông cũng đem ra giới thiệu và cho mượn đọc.
Có thể nói nó mở đầu cho loại địa phương chí xuất hiện khá nhiều trong
khoảng 1960-1970”. (HK, tr.352).
Nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê “ra đời không gặp thời”. Hiệp ước Genève
đã làm “thị trường sách đã thu hẹp mất non một nửa, ít nhất là một phần
ba”, và vì cụ Nguyễn Hiến Lê cho rằng cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp
Mười sẽ bán không chạy bằng cuốn Tự học nên cụ “chỉ in có 2.500 cuốn, giá
29 đồng”. Nhưng kết quả thật bất ngờ. Cụ cho biết:
“Mới phát hành được độ một tuần thì nhà Nam Cường đã bán hết 100
cuốn, bảo tôi giao thêm “vì sách bán chạy như tôm tươi”. Tôi ngạc nhiên,
không hiểu tại sao độc giả hoan nghênh như vậy. Sau hỏi ra mới biết chỉ nhờ
cái nhan sách. Lúc đó các anh em kháng chiến ở Nam đương tập kết ở hai
địa điểm Cà Mau và Cao Lãnh thuộc Đồng Tháp Mười để chờ tàu Ba Lan và
Pháp chở ra Bắc. Đọc nhan đề sách độc giả tưởng lầm rằng tôi đã vào Đồng
Tháp làm một cuộc phỏng vấn về cuộc tập kết đó. Về nhà đọc rồi họ mới thất
vọng. Thành thử chỉ trong một tháng đầu bán được ngàn cuốn, đủ vốn in,
còn 1500 cuốn bán lai rai năm sau mới hết”. (HK, tr.360)
Năm 1971, cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười được tác giả “sửa chữa
lại và nhường bản quyền cho nhà Trí Đăng xuất bản”. Bản tôi chép lại dưới
đây của Nxb Văn hóa Thông tin, năm 2002, có lẽ được in lại từ bản in của
nhà Trí Đăng.
Sau một thời gian dài dọ hỏi, tôi mua được bản của nhà Văn hóa Thông
Tin và vội gõ ngay bài Tựa cuốn này, một trong các bài Tựa tác giả tâm đắc,
và đăng trên topic “Một số bài Tựa cụ NHL viết cho sách của mình”. Trong
khi gõ dỡ dang Chương I: Một dịp may, tôi đã có “một dịp may”. Đó là nhận
được cuốn Nguyễn Hiến Lê – Con người & Tác phẩm của Nhiều tác giả
(NHL CĐ&TP), và một cuốn sách khác nữa do một người cô họ ở Nha
Trang gởi tặng. Tôi tạm ngưng cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười lại để
chuyển qua cuốn NHL CĐ&TP như là một cách tỏ lòng biết ơn người tặng
quà. Tôi đã đăng được hai bài, một ảnh và chú thích một ảnh khác.
Khi gõ gần xong Chương VII, máy tính bị trục trặc, phải cài lại. Cũng
may là tôi gõ xong đoạn nào thì đăng đoạn đó, phần gõ dở dang không bao
nhiêu. Nay gõ xong cả cuốn, tôi phải chép lại từ TVE phần đã đăng. “Số
phận” Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười một lần mất bản thảo vận vào bản
điện tử này chăng?
Trong lúc gõ, tôi ghi thêm một số chú thích và một số hình ảnh sưu tầm
trên mạng (trong sách chỉ có hình chỗ giáp nước và bản đồ Đồng Tháp
Mười) để chúng ta dễ hiểu tác phẩm mình đang đọc hơn. Tôi đã có dịp sống
khoảng một năm ở một vùng đất cũng đầy cỏ năng, bàng, lát, lau, sậy…;
cũng có bông sen, bông súng, lúa ma; cũng có lung, có giồng; cũng có tràm
lụt… Như những người nông dân sống ở vùng đất ấy, tôi cũng cấy lúa, cắt
lúa, bẩy chim, bắt cá… Vào mùa khô, nước chua lòm, phải gội đầu bằng bột
giặt, nhưng mùa lụt thì nước ngọt tràn ngập khắp nơi và khi nước xuống thì
cá nhiều vô số kể. Một lần, cùng hai người bạn đi kéo cá ở cuối một con kinh
nhỏ[8], một con kinh đổ ra kinh Vĩnh Tế, điên điển trên bờ chỉ còn lác đác
mấy bông trỗ muộn, sắc đã kém tươi. Đến lượt thay phiên, tôi leo lên bờ và
bất chợt thấy một vạt hoa vàng rộng chừng bốn, năm chiếc đệm, bò lan trên
nền đất màu xám, leo lên mấy cây sậy, cây lác. Đó là của một loại dây leo
giống như bìm bìm, hắc sửu, nhưng bông màu vàng như màu bông mướp
chứ không phải màu trắng hay màu tím nhạt. Tôi đứng lặng người rất lâu.
Một cảm giác là lạ tràn ngập lòng tôi, một cảm giác chưa từng có trước đó,
mãi đến bây giờ cũng chưa từng lập lại khi ngắm hoa. Thế đấy. Ở vùng đất
hoang vu cũng có cái đẹp bất ngờ! Đồng Tháp Mười hẳn cũng thế!
Trong eBook mới này, để tiện tham khảo, tôi chép thêm vào phần Đọc
thêm:
- Trích thư Quách Tấn ngày 28.10.1971;
- Trích thư Nguyễn Hiến Lê ngày 6.11.1971;
- Trích Hồi Ký Quách Tấn.
Ngoài ra, bạn Phaplu còn giúp tôi sửa lỗi chính tả. Xin chân thành cảm ơn
bạn Pháplu và xin trân trọng giởi đến các bạn.
Goldfish
Tháng 12 năm 2008
Bổ sung tháng 12-2011 và tháng 4-2012
TỰA
Tháng 7 năm 1934, tôi ở Trường Công chánh ra. Hai tháng sau, có người
giới thiệu cho tôi một chỗ làm ở Lào tại Savanakhét, nơi hiện nay có cuộc
xung đột. Tôi lúc ấy thích xứ Lào lắm vì đã được đọc một ít sách tả đời sống
an nhàn giữa cảnh thiên nhiên của các cô “phù sao”[9] ngây thơ và tình tứ;
nhưng mẹ tôi không muốn cho đi Lào, bảo:
- Mày qua bên đó, mỗi lần tao đi thăm mày sao được? Rồi mày cưới một
con vợ Lào, nó nói tiếng nó, tao nói tiếng tao, làm sao hiểu nhau?
Thế là tôi đành chờ một cơ hội khác.
Ba tháng sau, người ta cho tôi một chỗ làm ở Sài Gòn. Sài Gòn tuy xa hơn
Lào và tuy đối với mẹ tôi cũng là xứ lạ – người quê mùa lắm – nhưng đường
đi có phần dễ hơn mà lại gần nơi một ông bác ở[10], nên mẹ tôi bằng lòng
cho tôi đi, và tôi đi Sài Gòn sáng một ngày gần Tết.
Ở Sài Gòn được mươi ngày thì có lệnh đưa tôi đi làm tại Long Xuyên,
nhằm ngay tỉnh bác tôi ở, thế là tôi có dịp ăn Tết ở một làng hẻo lánh, bên bờ
sông Tiền Giang, trên Đồng Tháp Mười.
Chiều mùng một Tết, tôi và vài anh em ra sau nhà; nhìn sương, khói phủ
rặng tre ở rạch Trà Bông, tôi bồi hồi nhớ những bụi tre ở Sơn Tây, và trong
cảnh xa quê tôi yêu ngay làng đó, một điểm trên Tháp Mười như quê hương
thứ hai của tôi vậy.
Những năm sau, Tết nào tôi cũng về đó chơi và gặp được vài bạn thân gần
như ruột thịt. Năm 1937, sau khi đo khắp các tỉnh ở Hậu Giang, tôi được đo
ngay tỉnh Đồng Tháp. Nằm trong một chiếc ghe hầu[11], tôi đã lênh đênh
khắp các kinh, rạch từ Hồng Ngự tới Thủ Thừa, từ Cái Thia tới Mộc Hóa; có
khi đi trọn một tuần giữa một vùng bát ngát toàn lau, sậy, bàng, năng, hai ba
chục cây số không có một nóc nhà, một bóng người.
Sau sáu bảy tháng như vậy, tôi có thể tự hào rằng rất ít người Việt, ngay
cả những bạn Nam, được biết rõ cảnh Đồng Tháp như tôi.
Biết thì biết, mà chưa bao giờ có ý định viết về cánh đồng ấy.
Đầu năm 1944, có dịp ra Hà Nội, tôi gặp một bạn học từ lớp nhất, làm chủ
bút một tờ báo[12]. Anh bảo tôi:
- Đồng bào ngoài này không biết chút gì về miền Nam. Anh sống ở trong
ấy, nên chép lại những điều mắt thấy tai nghe cho độc giả hiểu thêm xứ
Đồng Nai.
Tôi nghĩ ngay đến Đồng Tháp Mười, đáp:
- Xin lĩnh ý anh, tôi sẽ viết về cánh Đồng Tháp.
- Cánh đồng ấy ở đâu? Tôi chưa hề biết nó.
Tôi cười:
- Anh làm sao biết được? Sách địa lí chỉ nói về nó một hai hàng, mà lại đặt
cho nó một cái tên khác, là “Đồng Cỏ Lát[13]” (Plaine des Joncs), nên nói
đến Đồng Tháp thì mười người Việt, chưa chắc được một người biết.
Về Sài Gòn, tôi thu thập ngay tài liệu về địa lí, thủy học (hydraulique),
kinh tế, phong tục thì tôi đã có sẵn nhờ sáu bảy tháng sống trong đồng. Chỉ
thiếu tài liệu về lịch sử. Thì may, nhờ người giới thiệu, tôi được ông Khuông
Việt, hồi đó tòng sự tại Thư Khố Nam Kì, chỉ giùm cho một số sách, báo,
bản đồ để tham khảo.
Sáu tháng sau, tôi viết xong cuốn Đồng Tháp Mười dày khoảng 150 trang,
đem gởi cho tòa soạn nhưng vì giao thông trắc trở, Sở Bưu điện ở Sài Gòn
không nhận đồ bảo đảm ra Bắc nữa.
Thế là đành sai hẹn với anh bạn và bản thảo phải cất trong rương, đợi một
cơ hội khác, vì tôi chưa đủ tiền đem in mà cũng chưa quen một nhà xuất bản
nào.
Thượng tuần tháng 10 năm 1945, tôi lại về Đồng Tháp Mười, tại nhà bác
tôi. Một đêm sáu bảy tên cướp vào đánh nhà, chủ ý là bắt cóc một ông điền
chủ lớn đang lánh nạn trong nhà; song, rủi cho chúng và rủi cho tôi, ông điền
chủ đó trốn thoát, chúng đành vơ vét ít quần áo, mùng mền rồi ôm luôn cái
va li của tôi đi. Thế là tập Đồng Tháp Mười mất ngay trong Đồng Tháp
Mười. Tôi tiếc lắm!
Vậy là tôi đã có cái duyên mới được bổ vào làm ở cánh Đồng Tháp rồi
gặp bà con ở đó, nên mới biết rõ được nó. Lại có cái duyên bạn một ông chủ
bút trọng lịch sử và địa lí Việt Nam, nên mới hăng hái viết về cánh đồng ấy.
Nhưng lại vì vô duyên nên viết xong, in không được mà đến bản thảo
cũng không giữ được.
Cuối năm ngoái, sau một thời gian xa cách tám năm tôi trở về Sài Gòn, và
cố ý viết lại cuốn Đồng Tháp Mười. Tôi bỏ ra một tháng tìm lại những tài
liệu cũ, song mười phần thu thập được bốn, năm; hoặc vì chính những tài
liệu đó đã mất, hoặc vì tôi không còn biết kiếm ở đâu ra.
Một hôm, nhân vào chào ông giám đốc Thư viện Nam Việt – vì ông đã có
nhã ý giúp tôi ít nhiều tài liệu – ông giới thiệu anh Lê Ngọc Trụ với tôi. Từ
trước anh Trụ và tôi chỉ biết tên nhau chứ chưa biết mặt nhau nên gặp nhau
chúng tôi mừng lắm và khi hay tôi đương băn khoăn vì thiếu tài liệu về Đồng
Tháp thì anh tỏ ý sẳn sàng giúp liền, và chạy đi ôm về từng chồng sách cho
tôi coi. Những học giả thường tậm với văn hoá như vậy!
Thế là lần này, nhờ cái duyên văn tự, tôi lại tìm được gần đủ tài liệu về
Đồng Tháp mà lần trước tôi đã kiếm ra và ăn tết Giáp Ngọ xong, tôi khởi sự
viết ngay trang đầu.
Vậy là lời cổ nhân đã đúng một lần nữa: “Phải có duyên mới viết được
một quyển sách”.
Hôm nay, đã viết xong trang cuối, tôi tự hỏi: “Có duyên để xuất bản
không đây? Hay là bản thảo lại thành đất bùn trong Đồng Tháp một lần
nữa?”. Như con chim phải tên, tôi nghi ngờ hết thảy. Chỉ khi nào sách bày
trong cửa tiệm, tôi mới có thể nói chắc được.
Viết cuốn này, tôi có ý tặng các bạn Bắc và Trung để các bạn ấy biết thêm
một miền trên đất Việt, nhưng cũng là để tặng các đồng bào miền Nam của
tôi nữa.
Non 20 năm sống trên đất Đồng Nai này, tới đâu tôi cũng được tiếp đón
một cách chân thành và thân mật.
Một đêm ở trên kinh Phong Mĩ, trong Đồng Tháp, vào đụt mưa trước cửa
một căn nhà lá. Lúc đó đã quá hai giờ khuya. Một bà già trong nhà đằng
hắng hỏi tôi. Tôi đáp. Tức thì có tiếng lục đục, rồi tiếng quẹt; một tia sáng lọt
qua tấm vách lá và một bà cụ mở cửa, mời tôi vào. Căn nhà nhỏ quá, chừng
sáu thước vuông, kê mỗi một bộ ván gỗ tạp. Một cô độ mười bảy, mười tám,
xếp vội mùng, mền, chào tôi rồi đứng nép một bên. Tôi ân hận làm mất giấc
ngủ của chủ nhân, xin lỗi cụ rồi ra đứng trước cửa, nhưng bà cụ không chịu,
nhất định bắt tôi vào ngồi nghỉ trong nhà vì “ngoài đó gió lạnh lắm”.
Hai bà cháu thức trên một giờ, tiếp chuyện tôi cho tới khi mưa ngớt. Đưa
tôi ra cửa bà cụ nói:
- Tội nghiệp thầy Hai, đường trơn, coi chừng té đấy.
Một lần khác, vào thăm một vườn quít ở Tân Thuận, tôi được chủ nhân,
một bà già góa chỉ đủ ăn chứ không giàu, tiếp đãi một cách cực kì đôn hậu,
cố giữ tôi lại dùng một bữa thịnh soạn do chính tay bà nấu lấy và khi từ biệt
bà, xuống ghe thì đã thấy ở dưới ghe, năm, sáu chục trái quít và hai ba nải
chuối.
Tôi nhớ hoài một bà cụ khác[14] rất nghiêm khắc mà rất nhân từ, đã giúp
tôi trong lúc tản cư được yên ổn học hỏi và viết sách. Cụ rất ít nói nhưng có
những cử chỉ cảm động vô cùng. Một hôm gần Tết, cụ bảo tôi: “Tôi biết thầy
có học Nho, không quên tổ tiên, nên bảo trẻ mua đồ cúng, thầy dọn bàn này
đi mà cúng ông bà”. Tôi muốn rưng rưng nước mắt. Hương hồn cụ lúc nầy
chắc tiêu diêu ở cõi Phật.
Một thi nhân vịnh Nam Việt có câu:
“Tối khả hoài nhân duy lão mỗ”
Lời ấy thật đúng! Không ai quên được tấm lòng rộng rãi, thương người
của các bà già miền Nam.
Những bà cụ ấy, đều chất phác, không biết sử kí và địa lí nước Việt, mà
đối với tôi – một người phương xa mới tới – thân mật như trong nhà, làm
cho tôi nghĩ tới “đầu óc địa phương” của một số bạn “có học thức” của tôi
mà xấu hổ thay cho họ! Họ mạt sát hết thảy những cái gì không phải ở trong
cái xứ họ mà ra. Còn giữ tinh thần hẹp hòi ấy thì còn bị người ta chia rẽ, còn
phải làm nô lệ.
Tôi mong rằng đọc xong cuốn này, đồng bào Trung, Bắc hiểu đồng bào
miền nam hơn và hết thảy chúng ta đoàn kết, tương thân tương ái nhau hơn.
Được như thế là tôi đã đạt được mục đích và đáp lại một phần nào tấm
lòng thành thực tự nhiên của các bạn miền Nam. Trong số các bạn ấy, tôi
phải cám ơn trước hết cô Nguyễn Thị Liệp và học giả Lê Ngọc Trụ là những
người đã giúp tôi tìm tài liệu soạn cuốn này.
Sài Gòn, ngày 15-4-1954.
CHƯƠNG I: MỘT DỊP MAY
Trung tuần tháng 3 năm 1939, một buổi tối, anh Bình với tôi ngồi uống
nước trà hột ướp sen bên hai chậu lan trong một khu sân nhỏ tại Khánh Hội
(Sài Gòn).
Bình là con một thương gia, mới đậu cử nhân Luật, vào chơi Sài Gòn lần
này là lần đầu.
Anh cầm tờ T.Đ.[15] coi qua vài cái tựa chữ lớn, rồi bỏ xuống, nói:
- Tôi không thể nào đọc báo trong này được.
- Sao thế?
- In sai nhiều quá. Hỏi, ngã nhầm be bét, rồi ác, át, an, ang… không phân
biệt, thật chướng mắt. Cây cau mà in là cây cao thì có chết tôi không chứ?
- Còn báo ngoài Bắc, không in sai sao? S thì lầm với x, tr với ch… mà sao
anh không thấy chướng?
- Bề gì ngoài mình in cũng ít lỗi hơn. Còn về nội dung thì bài vở tầm
thường lắm. Ít bài xã thuyết có giá trị. Có lẽ chỉ có mỗi tờ tuần báo Mai là
đọc được. Nói chung thì về văn học, Sài Gòn còn kém Hà Nội xa.
- Thế còn về phương diện khác? Anh đã ở đây được một tuần, đã đi thăm
gần hết những nơi đáng coi, đã được biết vài vùng ngoại ô như Gò Vấp, Thủ
Đức và nhận xét vài gia đình Nam, anh cho biết cảm tưởng của anh ra sao?
Bình suy nghĩ một chút, đáp:
- Khó nói quá vì cảm tưởng còn hỗn độn. Hồi anh mới vào – dễ trên bốn
năm rồi đấy nhỉ? – cảm tưởng anh thế nào? Để xem có giống của tôi không?
- Chắc không giống vì hoàn cảnh của tôi khác. Hồi ấy tôi vì mưu sinh phải
vào đây, còn anh đi chỉ có mục đích du lịch. Tôi tới Sài Gòn trong lúc thiên
hạ sửa soạn ăn Tết. Đi dạo chợ Bến Thành, không thấy cành đào và thủy tiên
mà chỉ thấy dưa hấu cùng hoa sen, tôi chán nản lắm[16].
Song bây giờ thì tôi quen rồi và thích đời sống ở đây.
- Có lẽ tôi đi du lịch nên tôi thích ngay Sài Gòn từ phút bước chân ở xe
hỏa xuống. Tôi thích từ giọng trong trẻo, lanh lảnh của các thiếu nữ, tới
những rặng sao cao vút, thẳng tấp và khí hậu mát mẻ điều hòa ở đây. Anh
nói mùa này là mùa nóng nhất mà đêm có thể đắp chăn đơn được thì thấm
vào đâu với mùa hè ngoài mình, nắng tới nứt tre, quạt luôn tay mà mồ hôi
vẫn nhễ nhại.
Nhất là tính tình đồng bào ở đây vui vẻ, tự nhiên, hợp với tôi lắm, không
kiểu cách như các bà hàng Bạc, hàng Đường ở Hà Nội. Không khi nào tôi
quên được cô Ba Đa Kao, má lúm đồng tiền, giọng nói nhẹ nhàng, thân mật
quá. Món nem nướng…
- Lại quên rồi. Chả giò.
- À, quên, món chả giò cô ấy dọn cho ăn bữa đó ngon tuyệt! Còn món cù
lao, món thịt kho nước dừa nữa chứ.
Tôi sẽ chép lại cách nấu các món ấy về chỉ cho bà con ngoài Bắc.
Tôi nói đùa:
- Thích Sài Gòn như vậy thì nhập tịch Sài Gòn phắt đi.
- Chưa biết chừng. Có lẽ ra chuyến này, tôi thu xếp rồi xin phép thầy mẹ
tôi vào làm ăn ở đây.
- Tôi sẽ thưa với hai cụ không cho anh vào vì hễ vào là về không được
nữa. Chắc anh biết câu ca dao này:
Sài Gòn dễ ở khó về
Trai đi có vợ, gái về có con.
- Trai đi có vợ? Thế thì còn gì tuyệt bằng! Thầy mẹ tôi đương mong có
cháu nội ẵm đây. Nhất là khi các cụ được nếm miếng thịt kho nước dừa thì
phải mê các cô Sài Gòn, còn ngăn cản gì nữa?
Chúng tôi đều cười.
Trầm ngâm một lát, anh Bình tiếp:
- Câu ca dao đó đúng thật. Xét kĩ, Sài Gòn không có gì đẹp. Không có
nhiều di tích cũ như Hà Nội; không có thắng cảnh như Hồ Tây, hồ Hoàn
Kiếm, cách ăn mặc phụ nữ ở đây cũng không được nhã: áo dài thì ngắn quá,
mầu thì lòe loẹt quá, ra đường thì nhiều cô chỉ mặc áo bà ba, không quen mắt
như tôi, thấy trơ trẽn lắm; hoa không có thứ quí; hải đường, trà, đào… đều
thiếu; cuộc sinh hoạt thì ồn ào: người ta sống ngoài đường nhiều hơn trong
nhà; quán ăn, tiệm nước đầy phố và lúc nào cũng chật ních khách. Vậy mà
không hiểu sao, Sài Gòn có sức quyến rũ tôi rất mạnh anh ạ.
- Tôi còn nhớ hồi mới tới có cảm tưởng rằng Sài Gòn không phải là một
thành phố Việt Nam. Vừa ở trong một tiệm ăn Quảng Đông ra, tai còn văng
vẳng tiếng xí xô của các hấu théng thì đã gặp ngay một chùa Chà, hương
trầm ngào ngạt, với những Ấn kiều y như tượng đồng đen ngồi xếp bằng tròn
trên gạch bông sặc sỡ.
Ở ngoài đường, ta chạm trán với khách mọi phương: những ông lục Cao
Miên áo vàng nghệ che dù đen, những anh gác dang Băng Ga Li hút điếu
bằng đồng, cần dài và cong, một bọn thủy thủ Anh, da đỏ như tôm luộc, mắt
xanh như nước biển, những anh lính Ma Rốc tóc xoăn, mắt và răng trắng dã!
Rồi người Chàm, người Mã Lai, người Nhật, người Pháp, người Huê kiều ở
Hải Nam, Quảng Đông, Triều Châu… bao nhiêu giống người bấy nhiêu
tiếng nói, y phục, phong tục mà cùng chung sống trên miếng đất này, làm
cho Sài Gòn có những vẻ đặc biệt, khác hẳn với Hà Nội, Huế. Ban đêm vào
Chợ Lớn thì ai mà không có cảm tưởng là đương ở Hồng Kông hoặc Thượng
Hải?
Có lẽ cái duyên của Sài Gòn mà anh vừa nói là ở chỗ ấy. Không khí tại
đây là không khí giang hồ, tứ chiếng. Mỗi lần đứng ở cột cờ Thủ Ngữ hoặc
trước bến Nhà Rồng, hóng mát trên bờ sông, nhìn những chiếc tàu biển từ
phương xa tới, những đoàn ghe từ Lục tỉnh lên, tôi có cảm giác là lạ này anh
ạ: tôi tưởng như trong ngọn gió thổi trên sông, có phản phất hương của muôn
phương. Vì vậy tôi bảo Sài Gòn không phải là một đô thị Việt Nam, nó là
một thương cảng của thế giới. Anh mới biết Sài Gòn chưa có thể nói là biết
Nam Việt được.
- Phải. Tôi cũng mờ mờ nhận thấy rằng Sài Gòn có vẻ tứ chiếng và vẫn
đợi anh đưa đi xem Lục tỉnh đây. Anh đã xin phép nghĩ chưa?
- Khỏi phải xin phép. Một dịp may hiếm có: sở giao cho tôi đi kinh lí
Đồng Tháp Mười trong một tuần lễ. Người ta cho tôi dùng chiếc tàu lớn có
hai chỗ nằm. Tôi đã xin phép cho anh theo.
- Đồng Tháp Mười ở đâu?
- Nó là Plaine des Joncs đấy mà. Anh còn nhớ địa lí Nam Việt không?
- Học lâu quá quên rồi.
- Cánh đồng đó rộng lắm, tôi chỉ trên bản đồ cho anh coi. Bây giờ anh chỉ
cần biết rằng chúng ta sẽ có cơ hội thăm những tỉnh này: Tân An, Mĩ Tho,
Sa Đéc, Long Xuyên, Châu Đốc.
- Thế ư? Vậy bao giờ đi?
- Ngày mốt.
- Ngày mốt là ngày gì?
- Ngày mai rồi tới ngày mốt. Ngày mốt tức là ngày kia. Nhưng tôi cho anh
hay trước, phải lội sình cực lắm đa!
- Lội sình là sao?
- Sình là bùn lầy. Trong Đồng Tháp Mười, cuối mùa nắng này còn những
chỗ sình tới đầu gối và rộng hàng trăm thước. Lội được không? Lại phải len
lỏi trong đám lau, sậy hàng chục cây số mà không gặp một nóc nhà, một
bóng người, và rắn đỉa thì vô số.
- Eo ơi! Ghê thế kia à? Anh nói thật chứ? Hay dọa đấy?
- Ai dọa anh làm gì? Theo nổi thì theo. Không nổi thì ở lại đây mà xuống
thăm cô Ba Đa Kao để tôi đi một mình.
- Từ Hà Nội vào đây, nằm hai ngày hai đêm trên xe hỏa mà chỉ để biết Sài
Gòn thôi thì ai chịu? Phải theo anh cho biết lục tỉnh chứ. Khó nhọc nào mà
anh chịu được thì tôi cũng chịu được. Ba năm “xì cút”[17] rồi mà!
- Vậy nhất quyết đi?
- Nhất quyết!
- Không sợ rắn hổ dài ba thước và đỉa trâu lớn bằng ngón chân cái ư? Còn
cái nạn muỗi nữa! Nhiều như… không thể tả được, vào trong đồng sẽ biết.
Chỉ thấy chúng bay như đám mây cũng đủ rợn mình.
- Cái gì cũng không sợ. Người Pháp qua đây trèo đèo lội suối chịu đủ gian
lao để biết rõ xứ của ta rồi về vẽ thành những bản đồ, còn chính chúng ta lại
không biết chút gì về giang sơn của tổ tiên để lại thì “mắc cỡ” lắm.
- Học được tiếng “mắc cỡ”. Giỏi. Để mai tôi thu thập ít tài liệu về cánh
Đồng Tháp Mười rồi xuống tàu chỉ cho anh coi. Cánh đồng đó tới nay, đối
với người mình, ngay cả với nhiều người Nam, còn là khu vực bí mật, chứa
nhiều cái lạ. Dù phải lội sình và bị muỗi cắn, đỉa bám thì cũng nên đi cho
biết.
CHƯƠNG II: TRÊN SÔNG VÀM CỎ
Từ Sài Gòn đến Tân An
Tân An
Một câu chuyện phiếm
Đồng Tháp Mười trên bản đồ
Thủ Thừa – Thủy triều ở Nam Việt
Giáp nước
Trên sông Vàm Cỏ Tây – Quận Mộc Hóa
Hai hôm sau vào lúc mờ sáng, chúng tôi lên xe đi Tân An. Khi xe ra khỏi
Phú Lâm không khí thơm ngào ngạt. Chúng tôi khoan khoái hít đầy phổi.
Tôi nói với anh Bình:
- Thôn quê Bắc Việt có hương xoan, hương bưởi, hương chanh thì ở đây
có hương sao, hương sấu, hương mù u. Tôi nhớ mấy năm trước, đi đo ở miền
Hậu Giang, có lần vào xin nước mưa trong một nhà lá nhỏ nọ, tôi cầm chén
nước vừa đưa lên miệng thì ngưng lại: nước thơm quá y như là ngâm hoa.
Rút khăn ra chùi miệng, khăn cũng phảng phất có hương. Nhìn lại mới thấy
căn nhà cất giữa một khu trồng đầy sao và mù u.
- Cây mù u ra sao?
- Nó cao, lá dầy, có bông tựa như bông mai, tuy nhỏ nhưng cũng nhị vàng,
cánh trắng. Tương truyền hồi Nguyễn Ánh thua Tây Sơn, chạy vào miền
Đồng Nai này, thấy bông mù u đặt cho nó cái tên là Nam Mai, nghĩa là mai
phương Nam. Trái mù u tròn và lớn bằng đầu ngón chân cái, hột có dầu dùng
để thắp. Anh nhận kỹ, phong cảnh miền này có khác miền Bắc không?
Bông mù u
- Nhiều dinh thự nguy nga. Nhà thường thì vách ván và lợp ngói hoặc lá
chứ không có vách đất và lợp rạ. Ngoài ra tôi không thấy có gì khác.
- Miền Chợ lớn này khai phá đã hơi lâu năm, lại ít sông rạch, nhiều đường
xe, nên không khác gì miền Bắc. Nhưng càng đi về phía Tây, phong cảnh
càng đổi: nhà cửa rải rác hai bên bờ sông, rạch chứ không thu lại từng chòm,
có lũy tre xanh bao chung quanh, có đường cái xuyên qua và hai cổng gạch ở
hai đầu đường như tại thôn quê Bắc Việt.
Ngồi xe, thấy chỗ nào có rặng cây xanh ở trước mặt là anh biết trước rằng
nơi đó có một dòng nước mà hai bên bờ là làng, xóm, đình, chùa, nhà
việc[18] thường cất ở chỗ hai, ba đường nước gặp nhau. Đó là một đặc điểm
phong cảnh miền Nam.
Chúng ta đang sắp đến cầu Bến Lức rồi. Rặng cây trước mặt là bờ sông
Vàm Cỏ Đông. Một lát nữa, chúng ta sẽ qua một con sông cũng lớn như con
sông này, và gọi là sông Vàm Cỏ Tây. Qua sông đó rồi là tới Tân An, một
châu thành nằm ở ven Đồng Tháp.
Tám giờ, chúng tôi tới Tân An, đã thấy chiếc tàu của sở đậu ở bến.
Chúng tôi cho xe dạo một vòng trong châu thành để anh Bình biết qua nhà
ga, các công sở cùng các biệt thự ở bờ sông Vàm Cỏ, rồi tìm chỗ điểm tâm.
Anh Bình nhất định lựa tiệm ở gần chợ vì anh vốn ưa cảnh náo nhiệt, thích
nhìn người ta đi lại, mua bán. Anh mua một trái dưa hấu và một chục quít,
ngạc nhiên lắm khi thấy cô hàng đếm cho anh mười hai trái. Anh cầm hai
trái trả lại:
- Cô đưa thừa cho tôi. Tôi mua có một chục thôi mà.
Cô hàng nghe giọng là lạ của anh, mỉm cười, đẩy hai trái quít về phía anh:
- Thầy mua một chục thì tôi đếm một chục đó.
Anh Bình chẳng hiểu gì cả, tôi phải giảng:
- Ở miền này trái cây như quít, mận thì một chục là mười hai trái. Có tỉnh
một chục mười bốn hay mười sáu kia.
- Lạ nhỉ! Một chục mười sáu trái. Thế thì có ông thánh hiểu.
Rồi anh quay lại bởn cô hàng:
- Chắc cô bán mắc cho tôi rồi. Một chục mười sáu mà cô bán có mười hai.
Anh cố sửa cho thành giọng Nam, không nói “bán”, “đắt”, “một” mà nói:
“báng”, “mắc”, “moột”.
Cô hàng chỉ mỉm cười, có duyên đáo để, làm cho anh Bình mê tít.
Xuống tàu, tôi giới thiệu anh với nhân viên trong tàu rồi dắt anh đi xem từ
mũi tới lái.
Tàu bắt đầu chạy. Chúng tôi kê hai chiếc ghế gần mũi tàu, ngồi nhìn
phong cảnh. Anh Bình bảo tôi:
- Công chức các anh sướng như tiên. Đi kinh lí thì có cả một chiếc tàu
“bự”. Tính ra chuyến này tốn cho chính phủ bao nhiêu?
- Khoảng 500 đồng[19], kể cả lương và phụ cấp của nhân viên trong tàu,
cùng tiền củi, tiền dầu… Tôi là công chức bậc nhỏ, đáng kể gì? Một viên kĩ
sư Pháp đi kinh lí, là sở cho một người bếp theo để nấu cơm Tây. Tàu họ lớn
hơn tàu này nhiều. Nói chi tới những hạng như thống đốc đi kinh lí.
Kể ra công sở tiêu tiền rất phí phạm. Theo cuốn “Man du tạp ức” của Hồ
Thích, chính phủ tỉnh Quảng Đông năm 1930 tiết kiệm công quĩ một cách ta
khó tưởng tượng nổi. Công chức nào muốn lấy một tờ giấy đánh máy hoặc
một cây bút chì cũng phải ghi vào sổ. Các ông huyện – một huyện bên đó
lớn bằng một tỉnh của mình – mà đi kinh lí chỉ có ngựa và thuyền. (Chẳng bù
với Nam Việt, trong một tỉnh nhỏ xíu, ông chánh tham biện có một chiếc
công xa, ông phó một chiếc khác rồi mỗi ông chủ quận một chiếc. Nhà cách
sở 100 thước cũng phải leo lên xe). Còn y phục thì từ Lí Tông Nhân, Bạch
Sùng Hi, – hai nhà lãnh đạo tỉnh Quảng T...
 





